Hôm nay,  

Nước Mỹ và đàn cừu

27/03/202600:00:00(Xem: 811)

nuoc-my-va-dan-cuu
Bài học rút ra từ hai câu chuyện này là: 1. Niềm tin khi bị lạm dụng sẽ biến thành hoài nghi, 2. Khi khả năng hoài nghi không còn, người ta sẽ mất luôn khả năng tự bảo vệ mình. Hình ảnh nước Mỹ năm 2026 cũng trong tình trạng này, một xã hội đứng giữa hai câu chuyện về sói: vừa mệt mỏi vì bị hù dọa, vừa quá dễ tin lời kẻ trà trộn xin giữ hộ đàn cừu của mình. 
 
Kho tàng ngụ ngôn Aesop có hàng trăm câu chuyện, trong đó có hai hai câu chuyện sau đây đáng suy ngẫm trong tình hình hiện nay của nước Mỹ. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch.

Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.

Bài học rút ra từ hai câu chuyện này là: 1. Niềm tin khi bị lạm dụng sẽ biến thành hoài nghi, 2. Khi khả năng hoài nghi không còn, người ta sẽ mất luôn khả năng tự bảo vệ mình. Hình ảnh nước Mỹ năm 2026 cũng trong tình trạng này, một xã hội đứng giữa hai câu chuyện về sói: vừa mệt mỏi vì bị hù dọa, vừa quá dễ tin lời kẻ trà trộn xin giữ hộ đàn cừu của mình.

Trong xã hội hiện nay, biểu hiện của trạng thái vừa đa nghi vừa cả tin ấy không khó nhận ra. Một mặt, không ít người Mỹ xem vắc-xin như một thứ “thí nghiệm trên dân chúng”, dù các mũi chủng ngừa căn bản đã được chứng minh an toàn và hữu hiệu suốt nhiều thập niên.

Mặt khác, chính những người này lại yên tâm đưa vào người đủ loại thuốc tăng năng lực, dược phẩm bổ sung, “liệu pháp thải độc” không ghi rõ xuất xứ nguyên liệu, thiếu chứng minh khoa học. Người ta dè chừng những dòng tên hóa chất lắt nhắt dán trên nhãn thực phẩm để bảo vệ người tiêu dùng, nhưng làm lơ những quyết định cho phép doanh nghiệp xả thêm khói bụi, hóa chất vào không khí và nguồn nước – những thứ gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe gia đình và cộng đồng.

Ở lãnh vực tài chánh cũng vậy. Một số người không còn tin ngân hàng, quỹ đầu tư, hay hệ thống tài chính truyền thống. Các cuộc khủng hoảng tài chánh và các vụ bê bối của thị trường Wall Street đã khiến họ mất đi niềm tin, từ đó họ xem mọi thứ mang nhãn “chính thống” đều là trò dối trá. Quay lưng với những cơ chế chính thống có kiểm tra và giám sát, người ta đem tiền tiết kiệm cả đời đặt vào những dự án tiền mã hóa bấp bênh, các quỹ đầu tư mạo hiểm, những trò cá cược giả danh “tự do tài chính”, các tài khoản ẩn danh điều hành bởi những “chuyên gia tự xưng” trên mạng – những người giỏi biến lòng tham và nỗi sợ của người khác thành nghề kiếm sống.

Trong chính trị và đời sống công cộng, tình hình không khả quan hơn. Đa số người Mỹ không còn tin vào những cơ quan chuyên môn từng được xem là chỗ dựa uy tín: cơ quan kiểm soát dịch bệnh, viện nghiên cứu khoa học, trường đại học, báo chí chuyên nghiệp... Trong mắt họ, tất cả giờ chỉ là một “nhóm tinh hoa“ có “âm mưu lớn”, từ đó bất cứ điều gì từ nhóm này đưa ra đều mặc nhiên bị xem là đáng nghi ngờ. Ngược lại, những nhân vật sống nhờ nỗi sợ ấy – người dẫn podcast bán “thuốc giải độc”, những ‘youtuber’ rao bán tin giả, doanh nhân tung đồng tiền vàng mã nhân danh “cứu tương lai tài chính”, chính trị gia dựng sự nghiệp trên hoài nghi vắc-xin – lại được xem là những kẻ “dám nói thật”. Hơn ai hết, những kẻ trục lợi này hiểu rõ lợi ích của việc càng làm khán giả hoang mang, càng dễ kiếm tiền và củng cố quyền lực.

Trong bối cảnh này chính trị nước Mỹ ngày nay, các quyết định liên quan đến vắc-xin là ví dụ tiêu biểu. Khi người đứng đầu ngành y tế liên bang can thiệp để trang web của cơ quan đặc trách vắc-xin rút lại câu xác định “vắc-xin không gây tự kỷ”, thay bằng những dòng chữ lơ lửng, đó không chỉ là chuyện chỉnh sửa câu chữ, mà việc này gửi đi một tín hiệu: ngay cả những kết luận đã được củng cố bằng hàng loạt nghiên cứu lớn cũng có thể bị đặt lại dấu hỏi, nhất là khi điều đó ăn khớp với nỗi nghi ngờ sẵn có trong công chúng. Cùng lúc, bệnh sởi – từng được tuyên bố xóa sổ ở Mỹ – lại bùng phát ở nhiều tiểu bang, buộc những gương mặt như Mehmet Oz, vốn lâu nay nổi tiếng nhờ các tiết mục gieo lo âu trên truyền hình, phải quay lại màn ảnh với một giọng điệu khác hẳn: nài nỉ người dân “hãy đưa con đi tiêm chủng, chúng ta đã có sẵn vắc-xin”.


Hình ảnh một người từng góp phần bôi xóa ranh giới giữa khoa học và giải trí, nay lại đứng ra vá lại chiếc bình niềm tin chủng ngừa đã nứt vỡ – là một trong những cảnh tượng ngang trái của nước Mỹ hiện tại. Nó cho thấy: khi xã hội lạm dụng hoài nghi với những nguồn thông tin đáng tin cậy, thì đến lúc cần khôi phục lòng tin, ngay cả những nhân vật có thế lực cũng không còn đủ uy tín để thuyết phục nữa.

Đây không phải là chuyện ít thấy. Nhiều nhà nghiên cứu đã thử gọi tên trạng thái tâm lý – chính trị này là một kiểu “chủ nghĩa âm mưu mới”, nơi xã hội bị tẩu hỏa nhập ma với vô số cáo buộc vô căn cứ đến mức người ta không còn phân biệt được chuyện gì giả, chuyện gì thật, điều gì đúng, điều gì sai. Điểm đáng chú ý là những thuyết âm mưu mới ấy hiếm khi đưa ra kế hoạch thay thế hay vẽ ra mô hình nào tốt hơn. Chúng chỉ cần phá thối niềm tin của mọi người nhằm để lại một khoảng trống để dễ dàng thao túng. Cái “thay thế” thực sự chiếm chỗ, ngoài đời, là dược/thực phẩm chức năng không rõ công dụng, là súng ống và đồ ăn “ngày tận thế” chất đầy nhà, là đồng tiền kỹ thuật số đổi lấy tiền thật, là mất khả năng hiểu chuyện thực hư, đổi lại cái cảm giác ngây ngất tưởng rằng “mình hiểu bệnh tật và chính trị hơn bọn chuyên gia”.

Hannah Arendt, khi phân tích các phong trào toàn trị đã đề cập đến “hỗn hợp kỳ lạ giữa cả tin và hoài nghi” xuất hiện ở mọi tầng lớp. Những người trong lưới này vừa đủ cả tin để nuốt hết những huyền thoại được tô vẽ, vừa đủ hoài nghi để bác bỏ mọi bằng chứng ngược lại. Với kẻ giăng lưới, chỉ cần đủ lạnh lùng để sử dụng chính sự cả tin đó như một công cụ. Nước Mỹ hôm nay, trên nhiều mặt, đang vận hành trong chính thứ hỗn hợp tâm lý mà Arendt từng mô tả: người dân vừa tin quá nhiều vào những kẻ nói điều mình muốn nghe, vừa nghi quá mức mọi nguồn thông tin không khớp với thế giới quan của họ.

Trong một môi trường vừa nhẹ dạ vừa đa nghi như vậy, những phong trào như MAGA có quá nhiều thuận lợi. Từ nhiều năm nay, Donald Trump liên tục lặp lại những câu chuyện sai sự thật về “bầu cử bị đánh cắp”, “phiếu qua thư là gian lận”, “máy kiểm phiếu bị thao túng”, bất chấp kiểm phiếu lại, phán quyết của tòa và các báo cáo chính thức đều không tìm thấy chứng cứ như ông nói. Phần lớn lãnh đạo Đảng Cộng hòa không những không bác bỏ mà còn lặp lại, hoặc né tránh đối mặt với những lời nói dối đó, khiến chúng dần trở thành một thứ “chân lý phe mình” trong mắt nhiều cử tri.

Khi báo chí, tòa án, cơ quan bầu cử bị gán nhãn “fake news”, “kẻ thù nhân dân”, còn các kênh truyền thông và tài khoản chuyên gieo thuyết âm mưu lại được xem như nguồn tin “dám nói thật”, việc phân biệt đâu là sự kiện, đâu là hư cấu trở nên gần như bất khả. Những người ủng hộ Trump cho rằng chỉ có ông mới dám “nói thẳng nói thật”, bất chấp cách ông công kích người nhập cư, báo chí, đối thủ chính trị đầy mâu thuẫn và sai sự thật.

Dĩ nhiên, cánh tả Mỹ cũng không miễn nhiễm với thuyết âm mưu. Ở phe nào cũng có những người thích một lời giải thích đơn giản cho một thế giới phức tạp, chưa kể đổ lỗi cho người khác luôn dễ dàng hơn chấp nhận sự việc khó nuốt. Tự kỷ thì tại vắc-xin, bệnh tật thì tại “thực phẩm độc”, con cái “trở chứng” thì tại trường đại học và cái gọi là “woke” đã “tẩy não” chúng; còn chuyện không nhà, không việc, lạm phát – tất cả đều do người nhập cư gây ra. Cách giải thích “chỉ dựa vào một lý do” giúp người có đầu óc đơn giản vừa đỡ mệt vừa thấy mình thông thái, đồng thời mở toang cánh cửa cho định kiến và thù hằn.

Phần còn lại của câu chuyện thuộc về mỗi người. Trong một thế giới mà dữ liệu và luận thuyết tràn ngập, không ai có đủ thời gian để tự mình kiểm chứng mọi điều. Sớm muộn gì, mỗi người cũng phải chọn mình nên tin ai, nghi ai. Có lẽ đó là điểm khởi đầu ít ỏi còn lại cho nước Mỹ lúc này – và cho bất cứ xã hội nào đang trượt vào vùng nhẹ dạ – đa nghi.

Sau cùng, điều quyết định vẫn là bản lãnh của mỗi người trước câu chuyện thiệt hư.
 
Nina Hòa Bình Lê
 
Tham khảo: 1. “Gullible, Cynical America” của Adam Serwer, đăng trên The Atlantic ngày 9.3.2026. 2. The Origins of Totalitarianism của Hannah Arendt, A Lot of People Are Saying của Nancy Rosenblum & Russell Muirhead; 3. Bản tin về RFK Jr., dịch sởi và các tuyên bố gian lận bầu cử của Donald Trump trên The New York Times, PBS, Politico.

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.