Hôm nay,  

Chiến Tranh Mỹ–Iran Qua Những Con Số

6/21/202612:49:00(View: 391)
JD Vance
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance dự một phiên họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Thụy Sĩ ngày 21-6-2026 trong nỗ lực xúc tiến một thỏa ước chấm dứt cuộc chiến.

Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng.

Trên bàn hội nghị, eo biển Hormuz là một điểm nghẽn sinh tử. Tehran vừa tuyên bố tái phong tỏa hải lộ huyết mạch này hôm thứ Bảy, việc ấy không chỉ đe dọa xé rách những điều khoản chủ chốt của khuôn khổ hòa bình vừa phác thảo, mà còn kéo dài tình trạng nghẽn mạch thương mại quốc tế, thiếu hụt lương thực và chao đảo thị trường năng lượng. Chỉ một quyết định ở Hormuz đủ làm cả thế giới phải trả thêm tiền trên mỗi lít xăng, mỗi bữa ăn.

Ở Lebanon, lửa chiến tranh lại bốc cao. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho hay bốn binh sĩ Israel thiệt mạng trong một trận giao tranh với Hezbollah hôm thứ Sáu. Hôm sau, không quân Israel oanh tạc khiến ít nhất 16 người chết, trong đó có hai trẻ em; Bộ Y tế Lebanon cho biết tổng số tử vong trong nước đã vượt quá 4.000 người. Những con số này, trong mắt các nhà hoạch định chiến lược, có thể chỉ là “tổn thất đi kèm”, nhưng với từng gia đình, đó là một phần đời bị xóa khỏi trái đất.

Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.

29 tỷ Mỹ kim: Chi phí của Hoa Kỳ

Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đến nay vẫn giữ kín chi tiết, nhưng theo lời trần tình trước Quốc hội, chiến dịch “Epic Fury” đã tiêu tốn vào khoảng 29 tỷ Mỹ kim tiền thuế của dân Mỹ chỉ trong những tháng đầu. Đó mới chỉ là số tiền chính thức được thừa nhận – có thể xem như mức khởi điểm, chứ chưa phải con số chót.

Một số cơ quan truyền thông tại Washington dẫn nguồn tin quốc phòng cho rằng chi phí thực sự có thể ngấp nghé 50 tỷ nếu cộng cả tiền sửa chữa những căn cứ bị hư hại, cộng với việc thay thế phi cơ không người lái và hỏa tiễn bị bắn rơi. Giới phân tích của Goldman Sachs cho hay cuộc chiến đã buộc họ phải hạ mức tăng trưởng dự liệu của Hoa Kỳ năm 2026 và nâng dự liệu lạm phát, chỉ vì giá dầu tăng vọt sau khi Iran khóa eo Hormuz. Nói cho gọn, người dân Mỹ đang gánh phần chiến phí ngay trên hóa đơn xăng dầu, tiền điện và giá chợ mỗi ngày.

Kho vũ khí Hoa Kỳ cũng là nơi biểu lộ cái giá phải trả. Trong bốn ngày đầu cuộc chiến, số hỏa tiễn Patriot được phóng lên còn nhiều hơn tất cả số Patriot mà Mỹ đã viện trợ cho Ukraine trong bốn năm qua. Việc lấp đầy lại những kho dự trữ ấy, theo chính lời các thượng nghị sĩ và chuyên viên quốc phòng, có thể kéo dài nhiều năm: một quả Tomahawk trị giá từ 3 đến 3,5 triệu Mỹ kim, một quả Patriot từ 4 đến 5 triệu. Khi một lần bấm nút tương đương cả một bệnh viện hoặc một hệ thống trường học, câu hỏi về ưu tiên ngân sách không còn là vấn đề lý thuyết.

Về nhân mạng, theo thống kê chính thức, 13 quân nhân Mỹ đã tử trận và khoảng 400 người bị thương trong chiến dịch. Trên mặt trận con số, đó có thể được gọi là “tổn thất thấp”; trên đời sống riêng của những gia đình liên can, đó là cái giá đã trả đủ.

3.636 sinh mạng: Tổn thất tại Iran

Tổ chức Human Rights Activists News Agency có trụ sở tại Hoa Kỳ cho biết từ khi chiến tranh bùng nổ đến nay, ít nhất 3.636 người Iran đã thiệt mạng. Trong số ấy, khoảng 2.100 là thường dân – phần đông chết vì những đợt oanh kích do Hoa Kỳ và Israel thực hiện. Một cuộc chiến được giải thích trên diễn đàn quốc tế như là nỗ lực “răn đe” Tehran, nhưng trên mặt đất, tuyến đầu thường là các gia đình vô danh.

Kinh tế Iran vốn đã hao mòn vì lệnh cấm vận, nay càng thêm chao đảo. Chính quyền Tehran ước tính tổng thiệt hại trực tiếp và gián tiếp do cuộc chiến gây ra lên đến 270 tỷ Mỹ kim. Đồng bạc Iran hiện nằm trong nhóm những đơn vị tiền tệ yếu nhất thế giới; mỗi ngày chiến sự kéo dài, niềm tin của người dân vào khả năng hồi phục lại bị bào mòn thêm một lớp.

Trong các buổi thương thuyết, phái đoàn Iran nhấn mạnh: bất cứ thỏa ước hòa bình nào cũng phải kèm theo việc giải tỏa một phần hoặc toàn bộ số tài sản lên tới hàng chục tỷ Mỹ kim của nước này đang bị phong tỏa ở ngoại quốc – những món tiền bị giam giữ qua nhiều thập niên vì cấm vận, trở ngại ngân hàng và kiện tụng pháp lý. Khuôn khổ thỏa thuận sơ khởi mới đây có ghi rằng các “tài sản bị đóng băng hoặc hạn chế” của Iran sẽ được “giải tỏa hoàn toàn để sử dụng”. Câu hỏi còn bỏ ngỏ là: tiền sẽ chảy về Tehran với tốc độ của một bản tuyên bố chung, hay với tốc độ ì ạch của bộ máy hành chánh quốc tế?

2,2 nghìn tỷ: Cái giá của việc bít eo Hormuz

Eo biển Hormuz – nơi khoảng 1/5 lượng dầu thô toàn cầu phải đi qua – từ lâu vẫn là phép thử của kinh tế thế giới trước những cơn sốt địa chính trị. Khi Iran buộc eo Hormuz phải ngưng lại, phép thử trở thành hiện thực tai hại. Theo ước tính của Viện Kinh tế và Hòa bình, cuộc chiến Mỹ–Iran đang kéo tụt tổng sản lượng kinh tế toàn cầu khoảng 2,2 nghìn tỷ Mỹ kim mỗi năm – một con số đủ để xóa sổ trọn vẹn GDP của nhiều quốc gia vừa và nhỏ.

Giá dầu thô đã vượt mức 100 Mỹ kim một thùng từ đầu năm 2026, so với khoảng 67 đến 71 Mỹ kim trước chiến sự, khi thị trường hãy còn yên hơn. Tám nước quanh vùng Vịnh – gồm Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập Saudi, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Qatar, Bahrain và Oman – phần lớn đều sống nhờ nguồn dầu khí phải đi qua Hormuz. Nhưng làn sóng đổ dốc không dừng ở đó: từ Úc, Bangladesh đến Nam Hàn, nhiều xứ buộc phải thi hành các biện pháp tiết giảm năng lượng, phân phối nhiên liệu hạn chế, và chuẩn bị tâm thế sống chung với tình trạng thiếu hụt kéo dài.

Giám đốc Cơ quan Năng lượng Quốc tế gọi đây là “thử thách an ninh năng lượng lớn nhất trong lịch sử”. Khi một cuộc xung đột mang danh nghĩa khu vực có thể làm cả hệ thống năng lượng toàn cầu chao đảo, câu hỏi không chỉ là khi nào ngòi nổ được rút, mà còn là liệu thế giới có chịu xem lại mức lệ thuộc của mình vào vài nút thắt cổ chai như Hormuz hay không.

Một triệu người: Dân Lebanon ly tán

Văn phòng Điều hợp Nhân đạo của Liên Hiệp Quốc cho hay từ khi chiến tranh Mỹ–Iran nổ ra và kéo theo mặt trận Israel–Hezbollah bừng lửa, hơn một triệu người Lebanon đã phải rời bỏ nhà cửa. Gần một phần tư dân số được dự đoán sẽ rơi vào tình trạng thiếu ăn ở mức “khủng hoảng và khẩn cấp”. Những thuật ngữ khô khan trong các bản phúc trình ấy, trên thực tế, là những bữa cơm bị bớt phần, những lớp học đóng cửa, những tương lai học trò bị treo lơ lửng.

Làn sóng di tản phần lớn bắt nguồn từ các chiến dịch quân sự liên tục của Israel trên đất Lebanon, bất kể nhiều lần tuyên bố đình chiến. Chính phủ Israel giải thích đây là biện pháp thiết lập “vùng an ninh” bao quanh biên giới phía bắc. Theo tấm bản đồ do Tel Aviv công bố không lâu sau một lệnh ngưng bắn, vùng đệm này rộng độ 600 cây số vuông, gồm 57 thị trấn và làng mạc. Không lực Israel tiếp tục oanh kích ra ngoài vùng đệm cho đến cuối tháng 5, và lệnh di tản trên thực tế bao trùm gần một phần năm đất nước Lebanon – một khoảng đất mà cả hai phía đều nhìn như bãi tranh chấp, còn người dân thì không còn gọi là quê hương.

Tổng số tử vong ở Lebanon đã vượt mức 4.000; Bộ Y tế nước này không phân biệt rõ giữa thường dân và chiến binh. Ngày 18-6 được ghi nhận là một trong những hôm đẫm máu nhất, khi không quân Israel đánh vào vùng phụ cận Nabatieh, Sidon và Tyre, khiến ít nhất 47 người thiệt mạng và 97 người bị thương.

Về phía quân sự, Israel cho biết hơn 1.700 tay súng Hezbollah đã bị hạ. Ngược lại, báo chí Israel thuật rằng từ đầu tháng 3 đến nay, ít nhất 35 binh sĩ và 4 thường dân Israel đã chết. Trên giấy tờ, bản ghi nhớ (MOU) mới ký buộc Hoa Kỳ, Iran và các đồng minh phải “chấm dứt tức khắc và vĩnh viễn mọi cuộc hành quân quân sự trên mọi mặt trận”. Nhưng trên thực địa, Israel vẫn phổ biến bản đồ vùng an ninh cập nhật cho thấy quân đội nước này còn đứng chân sâu khoảng 10 cây số phía trong lãnh thổ Lebanon, và Bộ trưởng Quốc phòng Israel tuyên bố lực lượng của ông “không bị đặt dưới bất cứ sự hạn chế nào”.

Giữa những hàng số lạnh lùng ấy, điều còn bỏ ngỏ là: khi tiếng súng tạm im, ai sẽ đứng ra thanh toán món nợ chiến tranh này – và đồng tiền chi trả sẽ là ngoại tệ, là nhượng bộ chính trị, hay là thêm nhiều thập niên bất ổn cho cả vùng Trung Đông lẫn thế giới?

VB tóm dịch
Nguồn: Lược dịch theo bài viết của Rebecca Schneid – TIME, 21-6-2026

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.