Hôm nay,  

Saigon Mới Của Chúng Ta

03/02/200700:00:00(Xem: 14179)
Saigon Mới Của Chúng Ta

LS Dina Nguyễn Hoàng Linh.

 Ngày 1 Tháng 2 Năm 2007

Kính Thưa Quý Đồng Hương,

Khi tôi đến Quận Cam vào năm 1977 thì chúng ta chỉ có một chợ Việt Nam ở đường Magnolia, một trung tâm người Việt và một nhà hàng trên đường First, và sau đó thêm được khu Bolsa Mini Mall.  Tôi nhớ mỗi khi chúng ta có tổ chức Tết, Quốc Hận 30 tháng 4, hoặc Trung Thu thì có những xe của người sắc tộc khác bấm còi giận dữ, người trong xe giơ tay chỉ trích, và la ó những câu như “Go back to where you came from!”  Trong chúng ta có người la lại, có người làm ngơ, và cũng có người chỉ đứng nhìn… nhưng tất cả chúng ta lại tiếp tục đồng đều, đoàn kết, và tập trung xây dựng nơi chúng ta gọi là Little Saigon. Nói chung là “chó sủa mặc chó đoàn lữ hành cứ đi”.  Qua bao nhiêu lần giấy phép xin xây dựng bị từ chối, qua bao nhiêu sự chống đối của những nghị viên trong thành phố, chúng ta vẫn không ngần ngại và vẫn lần lượt, có thể nói là thi đua, xây cất và cư ngụ tại nơi này. 

Rồi chợt một hôm tôi thấy trên TV có vài ngàn người biểu tình ở khu Bolsa Mini Mall. Đây là lần đầu tiên tôi biết đến Trần Trường và lần đầu tiên tôi thấy cộng đồng chúng ta biểu dương thế lực của mình. Lúc ấy là năm 1999.  Tôi phân vân tại sao một người trẻ như Trần Trường lại có những hành động trái ngược với những gì tôi đã được dạy bảo"

Theo tôi nhận xét, chúng ta đã định cư ở nơi này gần 24 năm khi chuyện này xảy ra, nhưng những dân tộc khác và ngay cả những chính quyền địa phương cũng vẫn chưa hiểu được sự quan tâm của chúng ta. Cảnh sát thành phố Westminster đã bắt giam vài người biểu tình tối hôm đó, nhưng sau khi có sự can thiệp của những người lãnh đạo (Việt) trẻ thì ty cảnh sát đã tha bổng những người này.

Trong những thời gian qua, chúng ta không những tranh đấu cho chúng ta mà còn tranh đấu cho cả những người Việt tị nạn khắp nơi và đòi tự do nhân quyền cho những người kém may mắn ở Việt Nam.  10 năm trước, tôi thắc mắc tại sao chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề ngoài phạm vi địa phương, nhất là những vấn đề bắt nguồn từ Việt Nam. 

Việt Nam đâu còn là đất nước như chúng ta mong muốn" Nhưng mỗi năm trôi qua thì tôi càng nhận thức sự việc rõ ràng hơn.   Chúng ta giúp thuyền nhân trong chương trình Boat People SOS và cựu quân nhân trong chương trình HO, và giờ này họ đã là một thành phần của người Việt tị nạn, giúp cho số người của chúng ta đông đảo hơn. Chúng ta chống đối sự liên lạc hoặc đón tiếp Cộng Sản Việt Nam vào quê hương mới (Hoa Kỳ), vì chúng ta muốn bảo vệ tiếng nói của người Việt tị nạn và đồng thời dành cơ hội phát triển kinh tế về phần chúng ta. Chúng ta khuyến khích, thúc đẩy, dòi hỏi tự do nhân quyền và tự do dân chủ tại Việt Nam vì cuối cùng những sự thay đổi tốt đẹp đó sẽ mang lại một nền kinh tế tự do vững mạnh, và điều đó sẽ có lợi cho những nhà kinh doanh của chúng ta.  

Dĩ nhiên tôi biết vấn đề còn sâu thấm hơn nữa trong tâm hồn của những người cựu chiến sĩ Quân Lực VNCH. Viết đến đây tôi thật sự không cầm được nước mắt, những đau khổ của những người lính VNCH luôn luôn hiện diện trong suy nghĩ của tôi, luôn luôn có mặt trong lòng tôi; tôi đã chứng kiến hình ảnh những anh hùng một thời giờ thành phế binh hiện đang lê lết tranh đấu cho cuộc sống hàng ngày ở Việt Nam, tôi đã nghe kể những chuyện về biết bao nhiêu tù nhân chính trị bị hành hạ tinh thần, sống nhiều năm không đủ miếng ăn, dầm mưa giãi nắng, lao động bất kể năng lực, và sống chỉ dựa vào niềm hy vọng mỏng manh như một sợi chỉ. Nhờ sức mạnh tinh thần, sự ủng hộ nhiệt tình của những mạnh thường quân và sự đoàn kết chung, chúng ta đã gây áp lực để hoàn thành Tượng Đài Chiến Sĩ trong TP Westminster nhằm ghi ơn và tưởng niệm các anh hùng đã hy sinh cho đất nước, để chúng ta có được tự do. 

Đến đây tôi muốn hướng về tương lai của chúng ta ở đất nước mới.  

Quả thật chúng ta đã đi được một khoảng đường dài trong thời gian rất ngắn, những người lãnh đạo do chúng ta đề cử đã tranh đấu để thúc đẩy đưa chương trình Việt Ngữ vào những trường trung học trong học khu Westminster và Garden Grove. Họ cũng đã góp tay giúp thành lập nhiều trường để dạy Việt Ngữ, Văn Hóa Việt Nam, và Lịch Sử Việt Nam mỗi cuối tuần cho hằng ngàn trẻ em gốc Việt.  Chúng ta đã đưa được 12 người Mỹ gốc Việt vào guồng máy chính trị Mỹ và có nhiều người Mỹ gốc Việt khác đã được bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng của liên bang và tiểu bang. Người Việt chúng ta đã chiếm hơn 50% khu vực kinh doanh của thành phố Westminster và hiện đang lan vào khu vực kinh doanh của Garden Grove.  Theo thống kê, hơn 30% người Việt chúng ta cư ngụ  trong thành phố Westminster và hơn 40% trong Garden Grove; theo đó, không có lý do nào mà quyền lợi của chúng ta vẫn bị hạn chế.  Một thí dụ thực tế về việc quyền lợi chúng ta bị xâm phạm là quyền tự do tôn giáo, Hội Đồng Thành Phố Garden Grove đã dựa trên những lý do không chánh đáng để bác bỏ thỉnh nguyện của bao nhiêu Phật tử xin được phép xây một ngôi chùa nằm trên đường Chapman. Sau 31 năm, chúng ta vẫn phải đương đầu với bao khó khăn, vẫn phải cực lực tranh đấu cho những quyền lợi căn bản của chúng ta.  Vì vấn đề này đã được phổ biến rỗng rãi trong những tuần vừa qua, tôi xin miễn nhắc lại và xin được phép nói qua một đề tài không kém phần quan trong. 

Khi tôi dẫn các con đi chơi trong khu Phước Lộc Thọ, tôi có gặp nhiều người sống ngoài đường “homeless”.  Trong những người đó tôi có quen 1 người từ lúc 12 tuổi, và biết đến một cô trước đây là ca sĩ nổi tiếng. 

Tôi hỏi người bạn tại sao anh ta không đi vào nhà tạm trú shelter để được giúp đỡ hoà mình trở lại với xã hội, anh nói với tôi “Ở khu này không có shelter thích hợp cho những người Việt Nam”.  Hỏi thêm thì tôi mới biết những shelters ở rất xa khu Việt Nam và không được an toàn cho lắm vì họ phải ở chung với những người có tiền án phạm tội hoặc có bệnh tâm thần. Anh năn nỉ tôi kiếm giùm cho anh việc làm, nhưng chỉ part time thôi vì sức khoẻ anh ta không được tốt do ăn uống bất thường và đêm ngủ dưói sương, dưới mưa lạnh lẽo mùa Đông.  Tôi lập tức điện thoại cho vài nhà shelters, nơi nào cũng rất xa khu Việt Nam, và nơi nào cũng không có đủ giường. Tôi rất thất vọng và buồn, càng cảm thấy đây là một trong những lý do tôi quyết định phải dấn thân vào chính trị và phải đoàn kết với những người tôi biết không những có khả năng mà còn cùng chí hướng, hiểu biết và có nhiệt tình với chúng ta.   

Có vài người bạn đồng nghiệp và lãnh đạo nói với tôi là “Hãy âm thầm đứng sau lưng người mình ủng hộ”. Tôi rất ngạc nhiên về lời khuyên này nhưng không phản bác ngay vì kính nể sự đóng góp ý  kiến của họ.

Tôi đã suy nghĩ rất kỹ về vấn đề này. Điều thứ nhất, tôi tự hỏi tại sao chính trị Mỹ lại có hai phe chính là đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, và mỗi khi tranh cử thì một trong những người được chọn ra từ hai đảng này sẽ đắc cử"  Có phải họ rất mạnh vì những thành viên của họ kết hợp lại có tư tưởng giống nhau" Còn vị trí chúng ta ở đâu khi khi bị loại ra từ hai đảng chính này" Chúng ta có thể nương tựa vào ai"

Điều thứ nhì, là một người đại diện cho quần chúng, nếu không có can đảm để tranh đấu cho lẽ phải, lợi ích, hoặc những điều hay thì làm sao tôi có thể bảo vệ quyền lợi của chúng ta"  Chúng ta không còn là Bolsa Mini Mall, Phước Lộc Thọ, hoặc Little Saigon…ngày nay chúng ta là một khu vực lớn, và là một Saigon mới.  Hết tất cả anh hùng của chúng ta đã đến nơi đây, hết tất cả những người trí thức của chúng ta đã đến nơi đây,  và nơi đây là cái lò rèn luyện cho các con em học giỏi, có tài cao để tiến bước lên vào giòng chính của xã hội Mỹ nhưng không mất đi sự quan tâm về văn hóa và truyền thống của người Mỹ gốc Việt. 

Trong những năm qua, tôi rất hân hạnh đã có cơ hội làm việc với một số người lãnh đạo, ủy viên, và dân cử Mỹ gốc Việt. Sự đoàn kết của họ đã cho tôi niềm hy vọng về sự phát triển tinh thần, xã hội, văn hóa, kinh tế, và năng lực của chúng ta.

Vào tháng 5, 2006, LS Nguyễn Hoàng Dũng đã tạo cho tôi cơ hội đến Tòa Bạch Ốc gặp những người phụ nữ đang giữ vài trò lãnh đạo và chính trị Á Châu và Thái Bình Dương.  Sự gặp gỡ này đã giúp tôi hiểu biết thêm về công việc của những hội đoàn bất vụ lợi và những công ty rất thành công bởi những người phụ nữ Á Châu và Thái Bình Dương. Trong đó có cô Anh Đỗ của Công Ty Người Việt Daily News và Cô Thanh Thảo của đài Viet Abroad Television. 

Sau đó, qua mùa Giáng Sinh 2006, LS Trần Thái Văn đã có lòng mời một số anh em dân cử đến tham dự buổi tuyên thệ của anh ở Sacramento. Dù không ai nói với nhau, những người tham dự đều hiểu rằng LS Văn muốn tạo cơ hội cho chúng tôi gặp những người dân cử khác ở khu vực Nam và Bắc Cali, và chúng tôi hiểu sự quen biết rộng rãi sẽ rất quan trọng khi chúng tôi cần đến sự tiếp tay của họ trong những dự án liên quan đến khu vực của chúng ta. Cũng giống như tôi, những người dân cử gốc Việt này rất nhiệt tình và luôn tin tưởng rằng sự đoàn kết và ủng hộ lẫn nhau sẽ đem đến những quyền lợi tốt đẹp chung. 

Đường chúng ta đi còn dài. Càng ngày khu vực của chúng ta càng bành trướng, cư dân người Việt chúng ta càng đông đảo, và vấn đề của chúng ta cũng vì đó mà càng nhiều và rắc rối.  Là một người phụ nữ Việt, tôi hiểu rất rõ ý nghĩa của hai chữ khiêm nhường. Tuy nhiên trong cương vị một người lãnh đạo và là một người di dân, nếu muốn đạt được mục đích tôi không thể lặng yên đứng sau lưng người tôi ủng hộ. Tôi sẽ đứng bên cạnh người tôi ủng hộ và người ủng hộ tôi sẽ đứng bên cạnh tôi. 

Kính thưa quý vị,

Tôi viết bức tâm thư này vì tôi hết sức quan tâm đến quyền lợi của chúng ta. Trong hai tháng vừa qua, chúng ta đã phân vân bởi việc có 3 ƯCV gốc Việt tham gia trong cuộc tranh cử Giám Sát Viên trong Khu Vực 1 của Quận Cam. Chúng ta lo lắng nôn nao trong lòng vì thấy các bài báo hoặc quảng cáo đi quá sâu vào đời tư và danh dự của các ƯCV.  Nhưng chúng ta hãy nhìn xuyên qua những “con bài” chính trị và hãy hiểu những vấn đề chính. Ai hiểu rõ về lịch sử của người Việt tị nạn chúng ta" Ai hiểu được những nhu cầu của chúng ta" Ai đã dám nói và dám làm, và đã mang về kết quả mỹ mãn cho chúng ta" Ai có một cái nhìn xa cho tương lai của chúng ta" Ai là người thực tế" 

Người xứng đáng không phải là người có nhiều bài đăng trên báo nhất, hoặc có nhiều tiền để campaign, hoặc trẻ nhất, hoặc già nhất, nhưng phải là người có khả năng gánh nổi trọng trách đã giao, có khả năng phục vụ vì lợi ích chung chứ không vì lợi ích cá nhân (one with the ability to deliver and promote unselfishly for the benefit of others).

Có nhiều lá phiếu chưa được gởi đến văn phòng ghi danh bầu cử, tôi khẩn thiết kêu gọi đồng hương hãy bỏ phiếu bầu, vì mỗi lá phiếu của quý vị là lá phiếu rất cần thiết để chúng ta có thể bảo đảm sự đắc cử của một người đồng hương xứng đáng.

Trân trọng kính chào Quý Đồng Hương,

LS Dina Nguyễn Hoàng Linh, Nghị Viên thành phố Garden Grove

Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
Giới binh pháp có một câu quen thuộc: không có kế hoạch tác chiến nào còn nguyên vẹn sau lần chạm trán đầu tiên với đối phương. Mike Tyson diễn đạt cùng ý đó theo cách của ông: “Ai cũng có sẵn một kế hoạch, cho tới khi bị đấm vào mặt.” Quân lực Hoa Kỳ là lực lượng lớn mạnh nhất thế giới, và khoảng cách với phần còn lại là rất xa. Dưới nhiệm kỳ tổng thống này, điều đó đã được chứng minh nhiều lần; Trump đã ra lệnh sử dụng quân lực nhiều hơn bất kỳ tổng thống nào trong thời kỳ hiện đại. Nhưng Iran là một câu chuyện khác hẳn.
Rất nhiều người Việt tỵ nạn trong và ngoài nước đã vỗ tay reo hò, chúc mừng cho dân tộc Iran. Người dân Iran xứng đáng được như thế. Họ xứng đáng được xuống đường nhảy điệu Bandari, hoặc nắm tay nhau múa điệu Kurdish. Chỉ là chưa thấy một ai ca ngợi cuộc không kích do Tổng thống Mỹ khởi xướng, có thể giúp ông ấy một ý kiến, “sau bom rơi đạn nổ, là gì?”, để Iran không có một Ayatollah Khamenei thứ hai, và chiến tranh mau kết thúc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.