Hôm nay,  

Tháng Tư ở Đại Học Berkeley

02/05/200700:00:00(Xem: 10018)

Nguyễn Thị Minh Ngọc đang diễn vai bà mẹ ôm con dại đi bỏ chợ (ảnh Bùi Văn Phú)
   Thứ Hai 9.4.2007

Tối nay có chiếu phim Sống Trong Sợ Hãi của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên. Như những lần trước, tôi đến rạp Pacific Film Archive sớm vì tìm chỗ đậu xe quanh đại học không dễ vào giờ này.

6 giờ 30, theo thông tin là giờ bắt đầu phát vé vào xem. Nhưng chưa thấy ai. Cửa rạp còn khoá, im lìm. Hay buổi chiếu phim bị huỷ bỏ"

Tôi nghe tin hôm chiếu phim này ở một đại học miền Đông đã có người biểu tình phản đối. Có thể nào buổi chiếu phim hôm nay bị hủy bỏ mà tôi không biết chăng" Tôi không nghĩ thế vì đây là cái nôi sinh của phong trào tự do phát biểu ý kiến trong khuôn viên đại học, dù có biểu tình phản đối thì sinh hoạt đã lên lịch vẫn diễn ra. Quá khứ chứng minh điều này. Mười năm trước, khi nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từ trong nước đến nói chuyện, có mấy chục người Việt kéo đến biểu tình bên ngoài, bên trong phòng hội vẫn diễn thuyết, thảo luận. Lần khác có đoàn múa rối nước qua diễn cũng có biểu tình bên đường và trên sân khấu Greek Theater những con rối vẫn ngụp lặn trong bể nước.

Tôi lang thang ra đường Bancroft chụp mấy tấm hình. Trở lại nơi chiếu phim, thấy chị Thuỷ Phạm vừa đến. Chị làm việc cho Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á của Đại Học Berkeley. Chị nói với người phụ trách phòng phim rằng hôm nay không phát vé, như lần chiếu phim Chuyện của Pao, mà First come first serve – ai đến trước vào trước. Chị hỏi, có biểu tình không" Tôi nói, theo thông tin trên mạng thì đây là một phim mang tính tuyên truyền cho Hà Nội vì do IVCE (Institute of Vietnamese Culture and Education) đem qua Mỹ chiếu, nhưng không thấy kêu gọi biểu tình.

Đúng giờ, giáo sư Peter Zinoman, chủ nhiệm trung tâm, đăng đàn giới thiệu Sống Trong Sợ Hãi là một phim đã được 5 giải Cánh Diều Vàng trong nước. Phòng chiếu thật thưa người, chỉ chiếm chừng 50 chỗ trong số ghế hơn 200.

Đây là câu chuyện của một người lính Việt Nam Cộng Hoà, tên Tải, vào thời gian vài năm sau ngày 30.4.1975 phải đi gỡ mìn về bán phế thải để nuôi sống gia đình với hai người vợ và mấy con nhỏ. Câu chuyện đan xen nhiều mảnh đời và những mối tình, công khai cũng như thầm kín của nhiều người đã một thời tham gia chiến tranh, thoát chết nhưng rồi cũng có người không qua được số mệnh oan nghiệt với bom mìn còn lại sau ngày cuộc chiến đã tàn.

Trong quá khứ tôi đã được nghe chuyện kể đi gỡ mìn, nhưng không phải để nuôi sống gia đình mà là theo lệnh của quản giáo trại học tập cải tạo. Nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng thời Việt Nam Cộng hoà, ông Đỗ Tiến Đức, từng kể cho tôi nghe khi mới đến Hoa Kỳ vào cuối thập niên 1970, sau mấy năm học tập cải tạo. Ông đã bị bắt đi dò mìn bằng khúc dây kẽm gai như nhiều cảnh trong phim. Còn những vùng đất cần được khai hoang, được gọi là vùng kinh tế mới, là nơi đầy đoạ gia đình tù cải tạo đã được thả về. Những câu chuyện tôi nghe nhiều trong thời gian công tác tại các trại tị nạn.

Trải nghiệm của những người từng sống qua những nơi như thế không đẹp như trong phim, không như Tải và gia đình, không như cảnh cán bộ và du kích kêu gọi nhân dân hồ hởi đi dò, gỡ mìn, dù câu chuyện được đạo diễn - cùng với nhà biên kịch Nguyễn Thị Minh Ngọc - dựng thành phim là câu chuyện thực, như lời đạo diễn cho biết sau phần chiếu phim, phản ánh cuộc đời của một nhân vật có thật.

Thứ Ba 10.4

Sau hôm chiếu phim, có buổi diễn kịch của nhà viết kịch kiêm diễn viên Nguyễn Thị Minh Ngọc ở nhà chị Nguyệt Cầm và giáo sư Zinoman.

Tối hôm đó chị Minh Ngọc độc diễn nhiều vai, trích ra từng đoạn của những tuồng kịch do chị soạn. Khi là một người mẹ phải đem bỏ chợ đứa con non dại vì không đủ sức nuôi, khi đóng vai một người viết gặp tổng biên tập không dám đăng bài vì sợ mất ghế, khi thì làm tướng công, khi trong vai quan chức trả lời thắc mắc của dân với đầy nghịch lí.

Trong những phút giao lưu, qua chị người nghe biết được ở Việt Nam ngày nay người sáng tác vẫn phải tự kiểm duyệt, phòng xa những chuyện nhạy cảm để khỏi bị cấm. Nhưng có những chuyện tưởng sẽ có vấn đề thì lại không và đôi khi chuyện nhỏ lại có. Chị dẫn chứng một vở kịch có một vai thanh niên thích làm từ thiện, thích mặc quần rằn ri nên bị cho là đưa lên hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hoà xưa. Chị nghe trên bảo xuống là không lẽ chỉ có Việt kiều và ngụy mới làm việc từ thiện hay sao" Một dịp khác, một vở kịch mới vừa được chiếu trên kênh truyền hình thì có ai đó gọi vào, nói nội dung xúc phạm đến phụ nữ, thế là không được phát nữa.

Tôi hỏi chị Ngọc: trong những phim như Chuyện của Pao và Sống Trong Sợ Hãi, vai chính đều có hai vợ, hay trong tự truyện Yêu và Sống, Lê Vân cũng mấy chồng, điều này có phản ánh xã hội Việt Nam ngày nay"

Chị trả lời: Ngoài đời còn nhiều hơn thế nữa. Nghe nói ở bên này các bà không cho chồng về Việt Nam một mình, anh thấy có đúng không"

Tôi gật đầu.

Xem chị Minh Ngọc diễn hôm đó có ca sĩ Ái Vân, mới rũ vai nàng Kiều ở quê nhà để trở lại đất Mỹ; có mấy nhà báo như Nguyễn Hữu Liêm, Nguyễn Khoa Thái Anh, Trương Gia Vy; có nhà văn Lê Thị Thấm Vân, Nguyễn Xuân Hoàng, Dana Sachs, Đỗ Hoàng Diệu. Thấy tác giả của Bóng đè nhỏ bé đi cùng chồng, anh Alec, sinh viên cao học ngành Sử Việt Nam, một người Mỹ to cao, trong trí nhớ tôi thoáng vụt lên những hình ảnh của thời chiến tranh xa xưa.

Cuộc chiến ở Việt Nam đã để lại nhiều hình ảnh ấn tượng: một nhà sư ngồi trong biển lửa, một ông tướng giơ súng nhắm vào thái dương kẻ thù đứng cạnh, những xác dân lành dưới mương, những mồ chôn tập thể, trực thăng bốc người từ một nóc nhà thành phố, một chị du kích với súng trên tay dắt tù binh Mỹ đi.

Thứ Sáu 13.4

Sproul Plaza thật nhộn nhịp. Đang dịp bầu cử tổng hội sinh viên nên sân trường tràn ngập bích chương, bảng hiệu vận động được từng nhóm sinh viên đi qua, đi lại giơ cao. Thấp thoáng có bảng mang tên Van Nguyen, Danielle Duong, những ứng viên gốc Việt.

Mấy chục hội đoàn sinh viên bày bàn ghế ra ngồi quảng bá sinh hoạt và chuyện gẫu. Có hội sinh viên gốc Philippines, Iran, Palestine, Trung Hoa, Hồi Giáo. Có những nhóm sinh hoạt Đảng Cộng Hoà, Đảng Dân Chủ, có nhóm văn nghệ hip hop, có hội sinh viên khoa thương mại hay hội đồng tính. Có bàn của hội sinh viên Việt Nam với hàng chữ VSA quen thuộc.

Tôi giới thiệu mình là cựu sinh viên và muốn mua vé coi văn nghệ tuần tới. Hỏi chuyện, tôi thấy các bạn ít biết về Việt Nam. Đất nước của bố mẹ, ông bà có lẽ là một nơi nào xa lạ. Năm sinh viên chỉ có một bạn đã theo bố mẹ về thăm gia đình. Còn tiếng Việt thì các bạn lõm bõm, không hiểu nhiều, trừ một nam sinh viên.

Daniel Hoàng nói tiếng Việt tương đối sỏi. Chỉ khi nào biết hiểu không rõ, tôi chuyển câu hỏi sang tiếng Anh. Daniel cho phép tôi ghi lại cuộc trao đổi:

“Em đang học ngành gì" Năm thứ mấy"”

“Em học English Literature, năm thứ tư.”

“Em sinh ra ở Mỹ""

"Vâng, em sinh ra ở đây."

"Em có làm gì trong VSA không""

“Em có trong ban điều hành. Trong ban lo tổ chức.”

“Ban điều hành bây giờ có bao nhiêu sinh viên"”

“Khoảng hai mươi sinh viên tất cả.”

“Sinh ra ở Mỹ, em có biết gì về ngày 30 tháng Tư"”

“30 tháng Tư thì bố mẹ kể cho em nghe. Em có đọc mấy cuốn sách viết về lịch sử của người Mỹ. Họ cũng không biết gì nhiều, vì cái vụ chiến tranh Việt Nam là của mình, chứ không phải là của họ. Họ sẽ không bao giờ hiểu được hết. Em biết 30 tháng Tư Việt cộng tới, Sài Gòn fell, then we have the diaspora. [Sài Gòn thất thủ, rồi chúng ta có cộng đồng di dân]”

“Em học tiếng Việt ở đâu mà nói giỏi vậy"”

“Cám ơn anh. Nhờ hồi nhỏ có bà ngoại ở nhà nói chuyện với em."

"Em có thường theo dõi thông tin về Việt Nam không""

“Not much. Just a little bit. [Không nhiều. Chỉ chút ít.]”

“How do you get news about Vietnam" [Em nhận thông tin về Việt Nam bằng cách nào"]”

“Hỏi bố mẹ hay lên mạng research [tra tìm].”

“Mạng nào em lên đó tìm đọc thông tin về Việt Nam"”

“Le Monde."

"Tu parles Francaise" [Em nói được tiếng Pháp"]"

"Oui."

"Gia đình em ở quanh đây hay ở xa""

“Nhà em ở nam Cali. Westminster.”

“Em đã về Việt Nam bao giờ chưa"”

“Em chưa về bao giờ. Mẹ em về rồi. Bố em thì chưa. My dad says as long as the communists are still there, he will not come back. But we have to live past that. [Bố em nói chừng nào còn cộng sản ở đó thì bố sẽ không về. Nhưng chúng ta phải sống bỏ qua quan niệm đó.]”

Sather Gate và Sproul Plaza, U.C. Berkeley tháng 4.2007 (ảnh Bùi Văn Phú)

  “Em có muốn về Việt Nam không"”

“Em muốn dịp hè về đó dạy tiếng Anh.”

“Em coi mình là người Mỹ hay người Việt"”

“Mình có hai lựa chọn. Đất nước này với lots of opportunities and we make the best out of it. [nhiều cơ hội và chúng ta hãy làm ra những gì tốt nhất từ đó]. Hay coi mình là người Việt về sống bên đó. Nói về đó để làm nhiều điều, nhưng một vài tháng, vài năm. It’s nothing. [Không là gì cả]. Phải ở luôn đó. Nhưng nhiều người quen lối sống bên này rồi. It’s hard from them to live over there. It’s very different. If they have ideals which their parents put into them, they only do it on the face, just to say that I’m part of the Vietnamese culture, I come back and do it one, two years, that’s it. If you want to do it you must devote yourself the whole way. You don’t go there couple years and go back and say I did my part. The job is not done until Vietnam is free. The other thing I want to say is Việt cộng will change when they are ready. We can do nothing from here. [Thật khó cho họ sống ở bên đó. Đời sống rất khác. Nếu họ có những lý tưởng do cha mẹ truyền đạt, họ chỉ làm thế ở bề ngoài thôi, để nói rằng tôi là một phần của văn hoá Việt, tôi trở về, sống ở đó một đôi năm, thế thôi. Nếu bạn muốn làm thì phải tận hiến tất cả. Bạn không về đó vài năm rồi về lại đây và nói tôi đã góp phần. Sứ mạng chưa thể hoàn thành cho đến khi Việt Nam được tự do. Điều khác em muốn nói là Việt cộng sẽ thay đổi khi họ sẵn sàng. Chúng ta không làm gì được từ bên này.]”

“Can we lobby and put some pressure for changes" [Chúng ta có thể vận động và tạo một số sức ép cho sự thay đổi không"]”

“You look at Cha Lý. [Anh coi Cha Lý đấy]. Họ bịt mồm cha lại. They covered his mouth and pushed him out of the courtroom. And we can not do anything [và đẩy cha ra khỏi phòng xử án mà chúng ta không làm được gì]. Ba mươi mấy năm rồi mà Việt cộng vẫn còn làm như thế. Nhưng em muốn hỏi anh như thế Hồ Chí Minh có đúng không"”

“Theo anh, câu hỏi đó chỉ có câu trả lời giả định vì ông Hồ mất năm 1969, trước khi chiến tranh chấm dứt.”

“Nếu ông còn sống he will be ashamed with what’s going on in Việt Nam today. Don’t you think" [Ông ấy sẽ xấu hổ với những gì đang xảy ra ở Việt Nam ngày nay, anh có nghĩ thế không"]”

“I think so. [Tôi nghĩ thế]”

Daniel đi tìm điếu thuốc, còn tôi đến giờ phải đi. Chúng tôi hẹn gặp nhau hôm văn nghệ.

*

Rời Sproul Plaza, tôi theo một sinh viên đến lớp Việt ngữ của thầy Trần Hoài Bắc. Tôi muốn dự thính xem các bạn trẻ học tiếng Việt ra sao. Gần cuối giờ thầy dành cho mươi phút để sinh viên thực tập phỏng vấn tôi bằng tiếng Việt về công việc, đời sống, gia đình, về sinh hoạt trong trường thời tôi theo học. Trong lớp tình cờ có một nữ sinh viên, giới thiệu là con của Nguyễn Trọng Vũ và Nguyễn Kim Phượng, là hai bạn cùng được bầu vào ban chấp hành đầu tiên của VSA, Vũ phụ trách sinh hoạt còn Phượng lo tài chánh.

Ngày đó chúng tôi đi học, kể cả nơi ăn chốn ở một năm tốn chưa đến 4 nghìn, trong đó tiền học phí chừng 700 đô-la. Bây giờ tiền học một năm gần 8 nghìn, ăn ở tốn hơn chục nghìn nữa. Lúc đó trường không có lớp Việt ngữ, nhưng tiếng Việt vẫn được xem là một ngoại ngữ vì tôi đã phải đi thi để chứng nhận là biết một ngoại ngữ theo điều kiện nhà trường bắt buộc. Một mùa hè, chương trình ngôn ngữ Đông Nam Á luân phiên tại Mỹ về đến Berkeley thì có thày Lê Thức Lân dạy một hay hai lần.

Hơn mười năm nay, khi giáo sư Peter Zinoman về trường dạy rồi lên làm chủ nhiệm Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á, chương trình Việt ngữ được phát triển. Mỗi học kỳ có 6 lớp, từ sơ cấp mới tập đọc, tập viết, đến trung cấp có thảo luận rồi lên cao cấp với bình luận văn chương. Phụ trách lớp là các thày Trần Hoài Bắc, Trần Hạnh và cô Nguyễn Nguyệt Cầm. Thầy Hạnh là giáo sư thỉnh giảng đến từ Hà Nội.

Cảnh trong văn nghệ Sài Gòn Trăng Mờ: nét thực dân đụng tinh thần độc lập (ảnh Bùi Văn Phú)

   Số nghiên cứu sinh chuyên về Việt Nam cũng tăng nhiều trong những năm gần đây, hiện có khoảng 30 và hai phần ba có họ Việt. Tiếc là vào năm 1997 trường đã không giữ lại được kho tài liệu về chiến tranh Việt Nam của cố học giả Douglas Pike, phải chuyển nó qua Texas Tech University. Nhưng thư viện Berkeley, một trong những thư viện đại học lớn ở Hoa Kỳ, cũng có một kho tài liệu phong phú về Việt Nam.

Năm ngoái Trung Tâm đã cho ra đời tập san bán niên Journal of Vietnamese Studies với nhiều nghiên cứu sâu sắc. Số mới nhất có bài về Đại Hội Đảng Cộng Sản, về Lý Toét và về ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn.

Thứ Năm 19.4

Có buổi nói chuyện và thảo luận của giáo sư Ken MacLean từ Đại Học Emory về việc phân ranh lãnh hải biển Đông. Những năm qua, đây là đề tài có lúc sôi nổi lên ở hải ngoại. Trong nước những người lên tiếng thì bị trù dập. Bận việc nên tôi không dự. Cũng tiếc.

Thứ Bẩy 21.4

Chiều nay tôi đưa con lên trường vui chơi trong ngày Open House, là ngày truyền thống của các đại học Mỹ, với nhiều sinh hoạt cho khách tham quan.

Nơi sân trường tình cờ gặp lại nhiều bạn cũ: Hồ Tường Thụy, Bảo Nguyễn, Thắng Võ. Gặp lại cả anh TA [Teaching assistant] gốc Đài Loan là người hướng dẫn tôi trong những giờ thí nghiệm thực hành của lớp Chem. 1A đúng ba mươi năm trước. Anh ngạc nhiên khi tôi còn nhớ tên anh là Chu-an Chang. Thời đó anh là sinh viên du học, mới đến Mỹ hơn một tuần nên vào lớp anh ăn mặc chỉnh tề, áo bỏ trong quần thẳng nếp, cổ tay đeo măng-sét, không xuề xoà quần gin áo thung như những TA khác. Anh kể sau khi tốt nghiệp tiến sĩ hoá học, anh ở lại Mỹ đi làm, rồi lập gia đình và hiện sống ở thành phố Piedmont gần đây.

5 giờ, tôi và các con đến Zellerbach Auditorium xem sinh viên trình diễn Sài Gòn Trăng Mờ. Các bạn sinh viên trong khăn đóng áo dài đứng đón khách.

5 giờ hơn, chương trình khai mạc với quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà.

Thính đường hai nghìn chỗ ngồi đông kín khán giả. 125 sinh viên đã góp phần dựng nên khung cảnh Sài Gòn vào thập niên 1930 và 1940, khi đất nước còn đang bị đô hộ, qua mối tình thăng trầm theo thời cuộc của một nhà văn Việt và cô giáo Pháp, qua phong cảnh, qua nét thơ Hàn Mặc Tử, qua lời ca tiếng nhạc, những vũ điệu và diễn xuất của các bạn trẻ lồng trong những tư tưởng, phong trào của những nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh và lòng khao khát độc lập, tự do của một dân tộc.

Thứ Hai 30.4

Trưa nay có giáo sư Larry Berman từ U.C. Davis đến nói chuyện về quyển sách mới nhất của ông viết về nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn: Perfect Spy.

Lịch sử cuộc chiến tranh ở Việt Nam sang trang đã lâu. Nhưng từ phía chiến bại thì tiếp tục còn là đề tài nghiên cứu và tranh luận. Như nhân vật Phạm Xuân Ẩn, tuy nói đến nhiều nhưng chưa thực sự được giải mã. Và còn nhiều điều bí ẩn nữa chờ đợi thế hệ sinh viên trẻ đi tìm ngọn nguồn.

Ngày cuối tháng Tư bây giờ sinh viên không còn tổ chức đêm không ngủ, không tụ họp nhau đốt những ngọn nến lung linh, hát câu thương nhớ gửi về quê nhà xa xôi thăm thẳm bên kia đại dương.

Quê hương của thế hệ thứ nhất nay đã gần lại, thật gần, qua email, Internet, Webcam, YouTube, qua 17 giờ bay trên biển là thấy sông Tiền, sông Hậu, sông Hồng với nước phù sa hiện lên bên dưới.

Nhưng Việt Nam là một nơi xa lạ lắm với những thế hệ con cháu.

Tháng Tư không còn những nỗi đau. Chỉ còn những ngày giỗ chạp.

Trịnh Công Sơn, Trần Bạch Đằng

David Halberstam, Chu Tử

Phạm Văn Đồng, Nguyễn Thị Thu Hương

William Craig Nystul, Michael John Shea

Nguyễn Văn Long, Nguyễn Khoa Nam

Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn

Sài Gòn, Việt Nam Cộng Hoà.

(talawas.org)

(Trân trọng cảm ơn tác giả Bùi Văn Phú đã gửi bài này tới Việt Báo.)

Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.