Hôm nay,  

Hoá Thân Và Hoá Dại

01/09/200700:00:00(Xem: 8307)

Chế độ vô thần Trung Quốc đang hoá dại...

Kể từ ngày hôm nay, Thứ Bảy mùng một, Tháng Chín, 2007, mọi vị Phật Sống muốn hoá thân để cứu độ chúng sinh thì phải xin phép Chính quyền Bắc Kinh.

Đây là chuyện khôi hài đen của một chế độ độc tài mà bất lực. Không giải quyết được cho thoả đáng nhiều vấn đề nhân sinh của kiếp này, trong cõi này mà đòi can thiệp vào lãnh vực tâm linh hay tín ngưỡng của thiên hạ.

Quyết định trên của "Ủy ban Nhà nước Quản lý Tôn giáo vụ" được ban hành từ tháng Bảy, mà không chỉ nhắm vào Phật giáo Tây Tạng hay thủ tục thừa nhận các vị Lạt ma. Nó còn khẳng định rằng Bắc Kinh mới có quyền tấn phong các linh mục Công giáo của Giáo hội Vatican.

Hãy nói về chuyện hoá thân trước.

Theo đức tin của Phật giáo Đại thừa, đức Phật đã xuất hiện trên thế gian để cứu độ chúng sinh. Trong cõi chúng sinh đó có con người chúng ta. Quan điểm này đề ra là đức Phật có ba thân (tam thân - nói theo từ Hán-Việt quen thuộc trong giới Phật tử Việt Nam) là Pháp thân, Báo thân và Ứng (hay Hoá) thân.

Hoá thân là thân của một vị Phật hay một Bồ tát chiếu hiện thành người và chịu mọi đau khổ như bệnh, tật, già và chết, của con người. Việc hoá thân ấy là chủ đích của vị Bồ tát vì lòng từ bi, và chịu hy sinh để đưa con người ra khỏi cõi khổ. 

Tin vào điều ấy hay không là quyền từng người, nhưng không ai có thể cấm người khác tin điều ấy, cũng như cấm người khác tin vào quan niệm Phục sinh của Chúa Kytô, một nhân vật lịch sử được coi là đã chết đi mà còn sống lại để tiếp tục cứu giúp loài người.

Trong dòng Phật giáo Đại thừa, Kim cương thừa của Phật giáo Tây Tạng tin rằng các vị Lạt ma (hay Đại sư, Guru, hiểu theo quan niệm thông thường) là hiện thân của Phật, là hoá thân của một vị Bồ tát - như Quán Thế Âm hay Văn Thù Sư Lợi - để hoằng pháp và cứu độ chúng sinh. Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 ngày nay của Phật giáo Tây Tạng là hoá thân của Bồ tát Quán Thế Âm (Chenrizi, theo tiếng Tây Tạng).

Việc tìm kiếm, thử nghiệm và xác nhận hóa thân của các vị Lạt ma (hay Đại sư Rinpoche) phải tuân theo những thủ tục thiêng liêng của các nhà sư Tây Tạng mà người ngoài có thể mường tượng là cũng nghiêm mật như quyết định phong thánh của Giáo hội Vatican. Đấy là quyền lực riêng tư của một Giáo hội, dựa trên đức tin, và đã có nền móng lâu đời trước khi xuất hiện chủ nghĩa Cộng sản tại Trung Quốc.

Trong lịch sử Trung Quốc, không thiếu Hoàng đế Trung Hoa đã tôn kính các vị Lạt ma Tây Tạng như thầy ("Kim cương Đại sĩ", "Pháp vương"), thậm chí tôn là "Tây thiên Đại thiện Tự tại Phật" như dưới thời Từ Hy Thái hậu của nhà Mãn Thanh.

Nhìn trong một viễn cảnh dài, quan hệ các vị Lạt ma Tây Tạng với Đại Hãn Mông Cổ hay Hoàng Đế Trung Hoa cũng có những thăng trầm hay mâu thuẫn như của Giáo hội Vatican với các vua chúa Âu châu vào thời Trung Cổ. Nhưng chúng ta đã ra khỏi thời Trung Cổ từ lâu và nay đã bước vào thế kỷ 21!

Thật ra, trong dòng văn hoá thần bí của họ, người Trung Hoa không thiếu chuyện tái sinh, để báo ân hay báo oán, từ truyện Kiệt, Trụ, Đát Kỷ tới các nhân vật thần kỳ trong Thuyết Đường. Điều khác biệt, nếu có, là các vị Lạt ma Tây Tạng nguyện tái sinh để cứu độ toàn thể chúng sinh - quan điểm Đại thừa - chứ không để báo đền ân nghĩa hay oán thù riêng cho một người.

Bước qua thế kỷ 21, khi Chính quyền Bắc Kinh muốn nhúng tay vào tiến trình đó và đòi hỏi các vị Lạt ma phải xin phép rồi mới ứng hiện có đăng ký đàng hoàng vào một kiếp sau, thì cũng khôi hài như đòi các ngài phải xin... chuyển hộ khẩu từ cõi này qua cõi khác. Theo đúng lý luận thần bí Trung Hoa, người ta phải tin rằng lãnh đạo Bắc Kinh ngày nay là một loại ma vương quỷ dữ được tái sinh để sát hại loài người.

Hay để tuyên chiến với các tôn giáo vì sự khiếp sợ của họ.

Khiếp sợ vì họ làm được những gì cho người dân của họ, ngay trong kiếp này"

Sau khi hoá kiếp mấy chục triệu người vì những hoang tưởng cuồng dại của Mao Trạch Đông - kéo dài hai chục năm - Trung Quốc chỉ bắt đầy chuyển hướng từ năm 1979. Hết thời mộng mị, họ trở thành lý tài và thực dụng, nhưng vẫn giữ nguyên truyền thống vô thần và đa nghi của người cộng sản.

Riêng với Tây Tạng, họ nhập nhằng cạo sửa lịch sử để vừa chiếm xong Hoa lục là bắt đầu "giải phóng" Tây Tạng từ năm 1950. Thực chất là thôn tính xứ này và cho người dân Tây Tạng nếm mùi cách mạng như người dân Trung Hoa, không thiếu một món, từ cải cách ruộng đất tới cách mạng văn hoá. Và thực tế, từ năm 1959, họ tiến hành chánh sách tiêu diệt văn hoá để đồng hóa dân Tây Tạng. Chẳng những diệt đạo, họ còn biến lãnh thổ Tây Tạng thành hầm chứa phế vật nguyên tử.

Việc chuyển hướng của Đặng Tiểu Bình tại Hoa lục chỉ lan tới Tây Tạng 10 năm sau nhưng cũng dẫn tới một đợt tàn sát và đàn áp thứ nhì vào năm 1988.

Tại Hoa lục, chánh sách phát triển đầy tính chất lý tài và thực dụng đã tạo ra thay đổi ở mặt ngoài, trước sự cổ võ của thế giới - và sự lặng thinh không kém thô bỉ của thế giới về những gì đã xảy ra tại Tây Tạng. Nhưng sự thay đổi ấy cũng gây nên muôn vàn vấn đề.

Trung Quốc là nơi mà mấy trăm triệu nông dân đang bất mãn và sẵn sàng nổi loạn. Đây cũng là nơi có tỷ lệ tự sát rất cao của thế giới - mà nhân loại không chịu nhìn ra. Trung Quốc có tỷ lệ ô nhiễm nguy ngập nhất thế giới và đang là đề tài nóng của toàn cầu về tình trạng sản xuất và xuất cảng hàng hoá thiếu vệ sinh, sản phẩm thiếu an toàn. Chuyện sản phẩm Trung Quốc bị chối từ và trả lại là thời sự hàng ngày, đếm không kịp.

Chủ yếu là vì cán bộ đảng viên vô trách nhiệm.

Đảng Cộng sản Trung Quốc không chịu trách nhiệm trước quốc dân nên đảng bộ địa phương khỏi chịu trách nhiệm với trung ương. Mỗi lần phải chấn chỉnh để làm gương thì trung ương chỉ gọt được triệu chứng ngoài da - bằng án tử hình như trường hợp Trình Hiểu Du hồi tháng Bảy, hoặc cho từ chức như Bộ trưởng Tài chánh Kim Nhân Khánh tuần qua - chứ không thể đào sâu tới căn bệnh.

Được số báo chuyên đề Forbes của tuần này chọn là vị nữ lưu có uy quyền thứ nhì thế giới (sau Thủ tướng Angela Merkel của Đức) Phó Thủ tướng Ngô Nghi của Bắc Kinh có hoá ra ngàn tay ngàn mắt cũng không trị được căn bệnh tác trách và gieo độc cho thiên hạ của các doanh nghiệp Trung Quốc.

Chỉ vì căn bệnh nằm trong thuộc tính của chế độ.

Tại Trung Quốc, quyết định về kinh doanh sản xuất không dựa trên luật lệ áp dụng thống nhất mà trên quan hệ - không là nhân quả của tiền kiếp - về tiền bạc với đảng viên. Kinh doanh càng lớn thì quan hệ phải càng cao và càng tốn. Nhờ quan hệ chằng chịt đó, việc kiểm phẩm hay bảo vệ môi sinh là sự hoang phí không cần thiết trong suốt tiến trình thu mua, cung cấp và phân phối từ dưới lên trên, cho tới khi ráp chế để xuất cảng ra ngoài....

Mãi đến giờ thế giới mới biết phiên dịch hàng hoá "Made in China", từ đồ chơi, khăn áo, vỏ lốp xe tới thực dược phẩm thành "của rẻ là của ôi". Hoặc chính xác hơn, "của rẻ là của độc",

Một chế độ có biệt tài đầu độc thiên hạ như vậy mà nay lại tự cho mình quyền chọn lựa Hoá thân của các vị Lạt ma!

Phải chi họ dọn dẹp cho sạch những ghẻ lở của chế độ để chuẩn bị màn trình diễn Thế vận vào năm tới!

Nhưng, biết đâu chừng, chính là vì Thế vận năm tới mà lãnh đạo Bắc Kinh phải tung ra những biện pháp ngược ngạo này" Lý do là để Thế vận Bắc Kinh không vận vào mình và mở ra nhiều động loạn mà họ rất sợ....

Tưởng rằng sau thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc đã hết cơn hoá dại! Vẫn còn lầm...

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.