Hôm nay,  

Sơn Núi

10/06/202222:51:00(Xem: 6612)



son nui 1
Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn.

 

Khi dừng lại để anh xuống xe, chào từ giã và quay xe để trở về Đà Lạt, nhìn dáng anh nhỏ bé chậm chạp bước lên đường dẫn về Phương Bối Am, tay cầm mấy bịch thức ăn, vai đeo "túi càn khôn" (chữ dùng của Cường) lòng tôi bỗng có một chút ngậm ngùi và có lẽ đó cũng là tâm trạng của tất cả anh em cùng đi. Anh là Nguyễn Đức Sơn.

 

Tuần trước, khi vợ ở Sài Gòn, Cường rủ đi Bảo Lộc. Máu giang hồ vặt nổi dậy, từ lâu tôi vẫn mong có nhưng lần đi chơi xa ngắn ngày như đã đọc trong "Tây hành ký" mà nhóm anh em này đã từng thực hiện. Hôm đó, tôi hỏi Cường có những ai đi cùng, em trả lời là có anh Cước và hai người bạn (tôi nữa là vừa vặn một xe). Khi xe đến đón ở nhà, tôi nhận ra có Dũng Nôbita và Quỷ Tịnh đều là những người anh em tôi đã từng gặp gỡ nhiều lần, quen biết và mến mộ. Thật là thú vị!

 

Khi hỏi về nơi sẽ đến ở B'Lao tôi được Phù Vân trả lời là sẽ thăm một người anh đồng nghiệp của Cường và anh Nguyễn Đức Sơn. Tôi buột miệng đọc 2 câu thơ của anh Sơn mà tôi đã từng nghe:

 

Đù mẹ hoa hồng

Mầy đứng giữa đồng,

Mầy không lao động.

 

và nói với anh em những nghe biết rất nghèo nàn của mình về Nguyễn Đức Sơn dầu rằng tên tuổi anh tôi đã từng rất hâm mộ từ thời sinh viên. Thời sinh viên nghèo nàn nhưng dễ thương và đầy ắp kỷ niệm ấy, do không có năng lực làm thơ và khả năng cảm nhận môn này rất hạn chế, lại phải lo học, còn lại là âm nhạc, sách dịch, biên khảo và thời trang chiếm khá nhiều nên thơ chỉ là món đồ trang điểm cho trí tuệ để có thứ mà nói chuyện mỗi khi anh em, trong câu chuyện, mở ra đề tài này, nhưng về sau, những gì biết về anh đã làm tôi thực sự khâm phục...

 

Xe rời Phương Bối Am một đoạn, tôi không thể không nói với anh em những suy nghĩ của mình và mở đầu bằng một câu nửa đùa nửa thật: "Hằng năm, cứ vào những ngày sắp đến Nouvel l’an, báo chí thường hay tổng kết mười sự kiện lớn trong năm trong nước và trên thế giới, nếu tôi cũng làm thế cho mình thì chắc chắn chuyến đi này được đánh giá là một trong mười sự kiện lớn của năm 2008". Và đó là một suy nghĩ rất thật lòng.

Lên đến Đà Lạt thì trời bắt đầu đổ mưa mà những cơn mưa mùa này cứ... dai nhách! Xuống đèo Prenn chưa tới 16 giờ mà trời cứ tối sầm do mưa. Qua khỏi Tùng Nghĩa mưa mới giảm và trời sáng lại. Lại qua Bảo Lộc, xuống đèo chạy đến Đạ Hoai tìm một chút thì đến nơi chúng tôi muốn đến, “một cõi đi về” của kiến trúc sư Võ Thành Lân. Trước đây anh là giảng viên Đại học kiến trúc Sài Gòn, nay nhảy ra làm ngoài, vợ con đã định cư ở Mỹ. Cứ chiều thứ năm, anh lại chạy xe lên trên này (cách Sài Gòn 154km) để nghỉ ngơi thư giãn. Trừ tôi và Quỷ Tịnh chưa gặp anh bao giờ còn Phù Vân và Dũng Nôbita thì đã. Anh giới thiệu khu đất, rủ chúng tôi xuống dòng suối trước nhà mà anh làm chủ một đoạn khoảng 300m vì 3 Hec-ta đất của anh nằm 2 bên suối. Nhà xây cất đã 4 năm nhìn ra suối và lưng là quốc lộ 20, khá đầy đủ tiện nghi, có sách vở, truyền hình cáp, bàn billard, bộ sưu tập mô hình máy bay, thiết giáp, tàu chiến và kết nối intemet ADSL... Thật là một chốn thật bình yên để giải tỏa những áp lực trong cuộc sống và những xô bồ náo nhiệt của Sài Gòn...

 

Anh dành cho chúng tôi sự tiếp xúc chừng mực nhưng rất thân tình với một buổi tối bia rượu nghe tiếng suối chảy, tiếng ếch nhái, côn trùng, tắc kè, nhìn thấy đom đóm bay, đàn hát, đọc thơ, đàm đạo mãi đến khuya. Mưa cả đêm thật lớn, sáng dậy nhìn nắng lên bên kia suối, núi rất xanh và vắt ngang đỉnh mấy cụm mây nhỏ, cái không gian và âm thanh mà chúng tôi ít được nghe thấy ở đồng bằng! Có một phát hiện thật lý thú mà mãi khi thức dậy sau cùng để uống café với nhau buổi sáng Cường mới nói là đã hơn 10 năm trước, Lân đã nói đại để là “chúng ta thật sự không sở hữu được bất cứ một thứ gì trừ thời gian” và vì thế anh rất quý thời gian mình được hưởng (một tiên cảm gì chăng?).

 

Hồi chiều trên đường xuống Đạ Hoai, Phù Vân lôi từ trong túi ra một mẩu giấy có địa chỉ anh Sơn do một người bạn ghi lại – Thôn 3 xã Lộc Châu, còn cẩn thận ghi cả câu: từ thị xã về phía nam khoảng 10km hỏi ông Sơn Núi. Chúng tôi chú ý hai bên đường để đoán chừng nơi ngày mai sẽ đến. Vốn liếng anh Phù Vân chỉ có thế cùng với những chuyện anh kể về kỷ niệm ngày xưa học với thầy Nguyễn Đức Nhơn là cha đẻ anh Sơn. Quỷ Tịnh thì nhớ và đọc một số câu trong vài bài thơ của tập "Thơ Nguyễn Đức Sơn" nhờ thời đi tu đã mua được và lén lút đọc, có lẽ do máu mê thơ nhưng sợ vi phạm những quy định nhà chùa (vì thơ “khứa lão” này tục quá) và cũng có lẽ đọc "chụp giựt" như vậy nên câu được câu mất. Dũng Nôbita biết nhiều một chút do đọc trên internet. Cường là "cán bộ đường lối" nên thi thoảng chỉ chêm vào phụ họa dăm ba câu cho vui đường dài nên không rõ công lực em thế nào. Riêng tôi là hiểu biết về thơ anh Sơn rất thiếu nhưng biết khái quát về tính cách và con người anh thì thừa (dù cũng chỉ nghe nói lại).

 

Tìm hỏi nhà "ông Sơn Núi" quả thật không khó. Từ trẻ em đến người già đều biết nhưng trước tiên tôi nghĩ nhà không thể nằm ngay quốc lộ vì ngày xưa đọc “Nẻo về của ý” hay “Nói với tuổi hai mươi” của Nhất Hạnh, tôi mường tượng đường lên Phương Bối Am là dốc núi cheo leo. Từ quốc lộ 20 đi vào cũng dễ lạc vì nhiều ngã ba nhưng hình như Cường rất nhạy cảm nên chỉ lố đôi chút chứ không sai.

 

Cuối cùng vẫn tìm đến nơi, phải dừng xe để đi bộ vào. Bên một căn nhà cũ cửa đóng (gần như bỏ hoang đã lâu) tôi gặp một người tầm ngoài ba mươi, ăn mặc xuềnh xoàng, nói chuyện có vẻ như người abnormal để hỏi. Thì ra anh ta là con trai của anh Sơn. Anh Sơn vừa mới ra khỏi nhà và các cháu không biết lúc nào sẽ về?

 

Phù Vân phải gọi điện, tự giới thiệu và anh hứa sẽ về ngay dầu rằng đã rời nhà hơn 30 cây số. Anh Phù Vân kể lại, đầu dây bên kia hỏi: “Việc này có thật không? Tổ cha đứa nào nói láo đấy nhé!” Tôi liền nghĩ, đây đúng là khẩu khí của "khứa lão" này!

 

Vậy là “võ lâm ngũ hiệp” (từ dùng của Quỷ Tịnh) đành phải ngồi chờ. Các cháu đem nước trà, mít chín mời và trả lời những câu hỏi của khách thật nhiệt tình, lễ phép! Chờ lâu thật lâu nhưng cũng không nản lòng. Rồi thì trên chiếc xe dị dạng thâu tóm ngũ hành – mà tôi, dân chuyên dùng xe cũ cũng không hiểu là thứ gì, cả Phù Vân cũng chưa hề thấy xe có kiểu bình xăng này – Sơn Núi ồ ạt đổ bộ vào nhà.

 

Sau vài lời chào hỏi xã giao, anh bắt đầu mở máy và thế là “ngũ quái” (từ dùng của anh Sơn) chỉ biết nghe và cười...

Chuyện của anh bắt đầu từ những trăn trở về thực trạng lộn xộn, cãi vã, đánh nhau ngay địa phương nơi anh đang sống rồi mở rộng dần ra cả nước và luôn trên thế giới với những sự vụ, những con người, những gặp gỡ, tiếp xúc cụ thể. Anh bảo anh đã được sống đến hôm nay đã gần bảy mươi là “lời quá rồi”! Và cứ thế từ văn học nhảy qua nhân văn, từ triết học nhảy qua thần học thao thao bất tuyệt, từ quái nhân này sang yếu nhân khác, từ Buddhist qua Catholic đến Islamic, anh lên án Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo nhưng cũng không đồng tình với Hồi Giáo!

 

Có hai điều tôi thật tâm đắc và cảm kích (mà có lẽ đó cũng là tâm trạng của tất cả chúng tôi) là anh không hề hoặc rất ít khi nói về thơ – thơ mình, thơ người, chỉ lướt qua vài ý thơ hay, thơ dở, rất khái quát, rất chung chung trong mạch chảy của câu chuyện hoặc là như một cách “minh họa”. Anh tập trung nói về một tác phẩm, có lẽ là tâm huyết một đời, những công án thiền xây dựng từ những điều nghe, thấy, tiếp xúc, mà anh, đôi lúc là chứng nhân, nhiều khi là nạn nhân trong đời sống hằng ngày! Anh đang viết dần trên cell phone, anh dự định đặt tên tác phẩm là "Lão Lú". Mong cho anh toại nguyện!

 

Điều thứ hai là anh vẫn mong, dầu rằng đó là việc bất khả thi, là được tiếp xúc với những người gây ra các vụ án xã hội để nói với họ dăm điều, mà khi ngồi với chúng tôi, anh kể ra hai người của hai vụ! Anh Sơn ơi, anh có quá ảo tưởng về mình, về con người và cuộc đời hay anh cũng biết chắc là nói chỉ để mà nói, để giải tỏa những trăn trở nội tâm của chính mình?

 

Dưới căn chái lợp ngói cao không đầy 3m, rộng chưa quá 10m2 bên hông ngôi nhà gỗ có gác, lớn không hơn hộp diêm quẹt mà cửa trước đã được niêm phong, một bàn vuông, một ghế nhựa thấp, một cái võng dù, trời B’Lao hôm ấy dịu mát, không nắng, nhiệt độ khoảng 30-32 độ C, chung quanh là thông, tre, trúc, chúng tôi ngồi, có lẽ quên cả không gian và chừng như luôn cả thời gian nghe anh say sưa nói, thao thao nói với một lượng từ ngữ và nội dung cũng như cường độ âm thanh khủng khiếp (anh nói lớn, nhanh, cười ha hả!) Tôi tự hỏi có phải anh không có ai để nói chuyện nên buồn quá muốn tiêu hóa những suy nghĩ từng nung nấu? Không phải thế, qua câu chuyện, anh kể anh đi nhiều, tiếp xúc nhiều, vậy hay là anh ngỡ mình là đấng tiên tri đang rao giảng trước bầy chiên mới nhập đạo? Cũng không, có lẽ vì tính anh vốn thế và nhất là anh trân trọng tình cảm của những hậu bối ở xa, nghe, biết và cất công lặn lội thăm anh. Có lẽ thế phải không Phù Vân, Cường, Dũng Nôbita và Quỷ Tịnh?

 

Khi đã khá trưa, anh mời chúng tôi đi ăn cơm chay và nói rằng, nếu không đủ tiền trả thì chúng tôi bù. Vậy là chúng tôi cùng đi xuống một quán cơm cách chân đèo Bảo Lộc khá xa. Trên xe tôi hỏi về 2 câu thơ mà tôi đã ghi lại ở trên, anh bảo có rất nhiều dị bản, mấy câu đó vốn từ một vở kịch. Tôi đề nghị anh chép lại cho để gọi là có "thủ bút" của anh. Mấy câu đó như sau:

 

Đù mẹ

cây bông

Hắn không

lao động

Ai trồng

chật chỗ

Mày nhổ

xem sao

Máu trào

thiên cổ

 

Và trong khi chờ thức ăn, anh cũng đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ anh làm trước 1975 khi chứng kiến ở đâu miệt Đồng Xoài, Bình Phước nơi vùng xôi đậu có biển đề Vùng tác xạ tự do, mà một người dân tộc thiểu số do không đọc được cứ mang gùi đi qua đã bị máy bay bắn chết, anh nghĩ về sự bất lực của trí thức trước cuộc chiến đầy máu lửa này:

 

Giữa khu rừng cháy đen thui

Một ông lão Thượng mang gùi qua mau

Máy bay rà thấp đằng sau

Tôi nhìn mây nổi trắng phau lưng đồi.

 

Nói gì thì nói, điều chúng tôi bâng khuâng và thấy buồn là cuộc sống hiện tại của anh, con cái và gia đình anh, họ đã làm gì để sống qua mấy chục năm từ khi về nơi này trong khi thơ anh không hề có báo nào chịu đăng, như anh kể về trường hợp Đỗ Trung Quân, Nguyễn Công Khế, ca ngợi anh, tâng bốc anh hết từ nhưng khi anh bảo nhờ đăng thơ thì họ tìm đường nói lảng sang chuyện khác! Vợ con anh đã sống như thế nào trong khi không dám trồng trọt bất cứ một thứ gì vì chưa đến thời điểm thu hoạch thì đã bị vặt hết? Họ đã sống như thế nào trong khi anh vẫn thường nói: “Tôi đếch làm gì kể cả làm chủ gia đình từ giải phóng đến giờ”. Và còn nữa, anh bảo khi một ai đó được hỏi đường tới nhà Sơn Núi, hỏi tìm Sơn Núi làm gì? Nếu câu trả lời là “để bắt” thì họ sẽ chỉ dẫn tận tình nhưng nếu trả lời “để thăm” thì họ từ chối. Hy vọng đó không là sự thật! Và điều quan trọng nhất là anh bảo anh có thể có một vài hợp đồng văn học nếu thực hiện thì không khó khăn vẫn có thể có từ 5.000-10.000 USD và rất thường xuyên nhưng anh vẫn từ chối. Tôi thực sự tin điều đó.

 

Trên đường về, tôi miên man nghĩ, cái đáng để tôi trân trọng anh là sự khiêm ái trong giao tiếp, đức kham nhẫn trong cuộc sống và độ lượng nhưng cũng rất dữ dội và khắt khe khi phê phán hoặc chỉ trích một ai – cái mà nhiều trường hợp tôi muốn tranh luận nhưng e rằng bất nhã trong sơ giao – và trên cái nền cuộc sống đầy gian truân khổ ải ấy của gia đình, anh đã sống "an bằng lạc đạo". Anh Nguyễn Đức Sơn, có phải anh là một vị Bồ tát theo nghĩa tương đối nhất?

 

Nguyễn Hoàng Quý

 

son nui

Từ trái: Dũng Nobita,Trần Thanh Cường, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Hoàng Quý.

 

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.