Hôm nay,  

Tối Cao Pháp Viện Đã Định Hình Nước Mỹ Ra Sao?

7/1/202612:55:00(View: 335)

Tòa Roberts hôm nay là một trong những Tối Cao Pháp Viện bảo thủ nhất của Hoa Kỳ trong một thế kỷ. Nhưng lần gần đây nhất Tối Cao Pháp Viện có ảnh hưởng đổi hướng nước Mỹ sâu xa như vậy lại là một tòa cấp tiến: Tòa Warren.

 

Roberts Court
Theo The Economist, Tối Cao Pháp Viện hiện nay, dưới quyền Chánh Án John Roberts, là một trong những tòa bảo thủ nhất trong vòng một thế kỷ. Tòa này đã giới hạn, hoặc lật lại hẳn, nhiều tiền lệ pháp lý lâu đời. Minh họa: Việt Báo.

 

 

Khi nói đến quyền lực tại Hoa Kỳ, người ta thường nghĩ trước hết tới Tổng Thống, Quốc Hội, các cuộc bầu cử, hay những cuộc vận động ngoài đường phố. Nhưng trong lịch sử Hoa Kỳ, còn có một quyền lực lặng lẽ âm thầm hơn, mà ảnh hưởng nhiều khi kéo dài hơn cả một đời tổng thống: Tối Cao Pháp Viện.

Chín thẩm phán, được bổ nhiệm trọn đời, có thể chỉ bằng một phán quyết mà đổi đường đi của cả quốc gia. Họ không làm luật theo nghĩa thông thường. Họ không chỉ huy quân đội. Họ không phải ra trước cử tri để xin phiếu. Nhưng họ nói Hiến Pháp có nghĩa gì. Và một khi Tòa đã nói, nước Mỹ thường phải sống theo nghĩa ấy trong nhiều thập niên.

Tối Cao Pháp Viện hiện nay, dưới quyền Chánh Án John Roberts, là một trong những tòa bảo thủ nhất trong vòng một thế kỷ. Tòa này đã giới hạn, hoặc lật ngược lại, nhiều tiền lệ pháp lý lâu đời. Tuy nhiên, theo tờ The Economist, lần gần đây nhất Tối Cao Pháp Viện có sức thay đổi nước Mỹ sâu xa như vậy không phải là một tòa bảo thủ, mà là một tòa cấp tiến: Tòa Warren, dưới quyền Chánh Án Earl Warren, từ năm 1953 tới 1969.

Tòa Warren nhìn vai trò của Tối Cao Pháp Viện theo một nghĩa rộng. Trong thời kỳ ấy, Tòa không chỉ đọc Hiến Pháp như một văn kiện cũ, đóng khung trong quá khứ, mà còn xem Hiến Pháp như một lời hứa chưa được thực hiện trọn vẹn. Từ quyền bình đẳng chủng tộc, quyền bầu cử, quyền của bị cáo hình sự, tới quyền riêng tư, Tòa Warren đã mở rộng ý niệm tự do cá nhân và quyền công dân.

Phán quyết nổi tiếng nhất là Brown v. Board of Education năm 1954, trong đó Tối Cao Pháp Viện bác bỏ chính sách phân biệt chủng tộc trong trường công. Câu “riêng rẽ nhưng bình đẳng,” từng được dùng để biện minh cho chế độ kỳ thị, đã bị đặt xuống. Từ đó, nước Mỹ không còn có thể nhân danh Hiến Pháp để duy trì một nền giáo dục tách trẻ em da đen ra khỏi trẻ em da trắng.

Tòa Warren cũng đặt nền cho nguyên tắc “mỗi người một lá phiếu,” buộc các đơn vị bầu cử phải phản ảnh dân số một cách công bằng hơn. Tòa mở rộng quyền của người bị bắt, quyền được luật sư bênh vực, quyền giữ im lặng trước cuộc thẩm vấn, và giới hạn quyền của chính quyền trong việc xâm phạm đời sống riêng tư. Đối với những người ủng hộ, đó là thời kỳ Tối Cao Pháp Viện kéo nước Mỹ tới gần hơn với lời hứa bình đẳng. Đối với những người chống đối, đó là thời kỳ Tòa đi quá xa vai trò tư pháp của mình.
Tòa Roberts hôm nay cũng đang được nhìn qua cùng một câu hỏi: Tối Cao Pháp Viện đang giải thích Hiến Pháp, hay đang viết lại hướng đi của nước Mỹ?



Trong những năm gần đây, Tòa đã lật lại Roe v. Wade qua phán quyết Dobbs, chấm dứt quyền phá thai được bảo vệ ở cấp liên bang. Tòa cũng lật lại học thuyết Chevron qua vụ Loper Bright, giới hạn quyền của các cơ quan hành pháp liên bang trong việc giải thích luật khi luật mơ hồ. Và trong vụ Trump v. United States, Tòa công nhận một phạm vi miễn tố rộng lớn cho tổng thống đối với các hành vi chính thức khi còn tại chức.


Riêng trong tuần cuối Tháng Sáu 2026, Tòa Roberts cho thấy sức xoay trục ấy một cách rõ rệt hơn nữa. Trên một mặt, Tòa đặt thêm nhiều quyền vào tay Tổng Thống: cho phép Bạch Ốc bãi nhiệm người đứng đầu các cơ quan độc lập, lật lại một tiền lệ đã đứng từ năm 1935; đồng thời mở đường cho chính phủ chấm dứt quy chế bảo vệ tạm thời đối với người Haiti và Syria, thu hẹp cửa tòa trong các tranh chấp di trú. Trên mặt khác, Tòa vẫn giữ lại vài lằn ranh then chốt: không cho ông Trump sa thải Thống Đốc Lisa Cook của Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang, và bác nỗ lực thu hẹp quyền công dân theo nơi sinh.

Cũng trong loạt phán quyết cuối nhiệm kỳ, Tòa cho phép các tiểu bang đếm phiếu khiếm diện gởi đúng ngày bầu cử nhưng tới trễ, đồng thời, Tòa phá bỏ một hàng rào thời hậu Watergate, cho phép bỏ mức giới hạn đảng chính trị có thể chi cho ứng cử viên. Chỉ trong một tuần, bản đồ quyền lực Hoa Kỳ được vẽ lại trên năm mặt trận: Tổng Thống, cơ quan độc lập, di trú, quốc tịch, và bầu cử.

Những phán quyết của Tòa không chỉ là chuyện chữ nghĩa pháp lý. Chúng đi thẳng vào đời sống. Khi quy chế bảo vệ tạm thời bị thu hẹp, người tị nạn chạy trốn chiến tranh, thiên tai, hay khủng hoảng nhân đạo mất đi mái che pháp lý tại Hoa Kỳ. Khi cửa tòa trong các tranh chấp di trú bị khép lại, quyền quyết định rơi nhiều hơn vào tay hành pháp. Khi các cơ quan độc lập dễ bị Bạch Ốc lay chuyển, cách chính phủ điều hành về môi trường, lao động, y tế, tài chánh cũng đổi theo. Và khi Tổng Thống được đặt trong một vòng bảo vệ mới, câu hỏi ai có thể buộc người đứng đầu hành pháp chịu trách nhiệm càng trở nên nặng hơn.

Điểm đáng chú ý là Tòa Warren và Tòa Roberts đứng ở hai cực tư tưởng khác nhau, nhưng lại giống nhau ở một điều: cả hai đều cho thấy Tối Cao Pháp Viện không phải là một định chế đứng ngoài lịch sử. Khi có một đa số vững chắc và một đường hướng pháp lý rõ rệt, Tòa có thể xoay trục quốc gia.

Tòa Warren dùng quyền tư pháp để mở rộng quyền công dân. Tòa Roberts dùng quyền ấy để xét lại nhiều thành quả pháp lý của nửa sau thế kỷ 20. Một bên tin rằng Hiến Pháp phải được đọc như một lời hứa tiến bộ. Bên kia nhấn mạnh văn bản, lịch sử, giới hạn quyền liên bang, và quyền của tiểu bang — tuy trong một số trường hợp lại mở rộng đáng kể quyền của tổng thống.

Vì vậy, câu hỏi “Tối Cao Pháp Viện đã định hình nước Mỹ ra sao?” không chỉ là câu hỏi của sử học. Đó là câu hỏi của hiện tại. Một nền cộng hòa không chỉ được tạo nên bởi những điều viết trong Hiến Pháp, mà còn bởi những người được trao quyền giải thích Hiến Pháp ấy. Cùng một bản văn, qua những con mắt khác nhau, có thể sinh ra những nước Mỹ khác nhau.

Khi Hoa Kỳ chào mừng ngày sinh nhật thứ 250, Tối Cao Pháp Viện vẫn là nơi các lý tưởng lập quốc được đem ra thử lại: tự do là gì, bình đẳng tới đâu, chính quyền liên bang mạnh chừng nào, tiểu bang có quyền tới mức nào, và tổng thống có thể đứng cao hơn luật pháp hay không.

Sau cùng, nước Mỹ không chỉ được cai trị bằng những điều ghi trong Hiến Pháp, mà còn bằng cách chín thẩm phán đọc và suy diễn những dòng chữ ấy.

Nguyên Hòa biên tập

Nguồn: Biên tập theo video “How has the Supreme Court shaped America?” của The Economist, cùng các tài liệu công khai về Tòa Warren và Tòa Roberts.

 

Cuộc bầu cử sơ bộ ở California sẽ góp phần định hình tương lai bang đông dân nhất nước Mỹ trong nhiều năm tới. Đảng Dân chủ cầm quyền đứng trước một bước ngoặt, trong khi dân chúng vẫn xoay xở với đời sống đắt đỏ, lo các đợt truy quét di dân và thiên tai do biến đổi khí hậu. Dù vậy, nhiều người vẫn chưa mấy quan tâm đến các cuộc đua ảnh hưởng trực tiếp đời sống của họ, nhất là ghế thống đốc. Tuần này, tình hình có thể đổi khác, khi diễn ra hai cuộc tranh luận truyền hình liên tiếp giữa các ứng viên thống đốc, bắt đầu với chương trình trên CNN lúc 6 giờ chiều thứ Ba, giờ California. Các cuộc tranh luận diễn ra đúng lúc lá phiếu đã được gởi đến đa số cử tri, để họ có thể bỏ sớm trước ngày 2 tháng 6.
Sau nhiều dự án lãng phí vì không đạt được mục đích mà còn gây thiệt hại nặng nề cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau hoàn toàn thất bại, dự án cống đập Ba Lai gây rối loạn toàn bộ hệ sinh thái, dự án thoát lũ ra biển Tây cắt mất lũ tự nhiên, nguồn phù sa dinh dưỡng và gây ra sạt lở và sụt lún. Dự án cống đập Cái Lớn Cái Bé có hiệu quả ngăn mặn ngắn hạn, nhưng làm ngọt mặn xáo trộn không đồng bộ với nhu cầu của đồng bằng. Vì thế công trình lớn nào đưa ra bây giờ đều cần phải cân nhắc tránh rủi ro, nhất là những rủi ro có thể thấy trước phải tránh né ngay từ đầu, hay phải có biện pháp giảm thiểu tối đa
Theo Scott Kurashige, viết trên University of California Press ngày 16 tháng 3, 2026, bạo lực chống người Á châu tại Mỹ không phải những cơn bùng phát rời rạc, mà là hậu quả của một lịch sử kỳ thị lâu dài bị phủ nhận, bị làm nhẹ, và nhiều lần bị xoá khỏi ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh chính trị hôm nay, bài viết nhắc rằng muốn hiểu đúng làn sóng thù ghét hiện nay, trước hết phải nhìn thẳng vào phần lịch sử mà nước Mỹ lâu nay tránh đề cập tới.
Giá dầu thế giới tiếp tục leo thang trong khi hỏa tiễn và máy bay không người lái của Iran liên tiếp đánh vào các cơ sở hạ tầng trọng yếu ở các nước Ả Rập vùng Vịnh. Cùng lúc, nhiều trận tập kích nhắm thẳng vào những trạm radar trị giá hàng tỉ đô la của Mỹ tại Trung Đông, khiến không ít trạm bị đánh hư hoặc phá hủy và làm dấy lên câu hỏi: lá chắn phòng thủ của Washington trong khu vực đã suy yếu đến mức nào. Mỹ hiện duy trì một vành đai căn cứ quanh Iran, với hàng chục điểm đồn trú và hàng chục nghìn binh sĩ nằm trong tầm bắn. Từ đó nảy sinh một thắc mắc rất cụ thể: nếu một quả hỏa tiễn được phóng từ lãnh thổ Iran nhằm vào một căn cứ Mỹ, làm sao sĩ quan và binh lính tại chỗ có đủ thời gian để chui vào hầm, tản quân và chuẩn bị đánh chặn?
Sau phỏng vấn cựu đại tá Hoàng Cơ Lân nguyên giám đốc trường Quân y VNCH của báo Pháp “Guerres & Histoire” số tháng 2-2024, giới thiệu đến bạn đọc một chương hồi ký của vị đại tá đã làm y sĩ trưởng lâu năm nhất của sư đoàn Dù (1965-1970). Cho đến khi mất đại tá Hoàng Cơ Lân vẫn minh mẫn và giữ nguyên ký ức lồng lộng của những ngày còn là tân khóa sinh thực tập các saut nhảy dù. Vị đại tá cũng cho biết Nhảy dù đã từng có một lời nguyện… [Trần Vũ]
LTS: Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân vừa tạ thế tại Paris ngày 15 tháng 3 năm 2026. Việt Báo xin đăng lại bài phỏng vấn do Olivier Vece và Benjamin Fayet thực hiện cho nhị nguyệt san quân sử Guerres & Histoire của Pháp, bản Việt ngữ do Trần Vũ chuyển dịch, như một lời tiễn biệt Ông.
Theo bản tin của PolitiFact, đăng lại trong mục Thế giới ngày 7 tháng 3 năm 2026 trên PBS, chỉ ít ngày sau khi phát động chiến tranh với Iran, Tổng thống Donald Trump đã đem nỗ lực của ông nhằm triệt hạ khả năng phát triển vũ khí hạt nhân của Iran ra so sánh một cách thuận lợi với thỏa ước hạt nhân năm 2015 do một vị tiền nhiệm của ông thương thuyết. Thỏa ước hạt nhân dưới thời Tổng thống Barack Obama còn hiệu lực cho tới năm 2018, khi Trump rút Hoa Kỳ ra khỏi đó trong nhiệm kỳ đầu của mình.
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.