Hôm nay,  

Lịch Sử Tái Diễn

06/07/200400:00:00(Xem: 7000)
Dư luận thế giới cho rằng cuộc chiến Iraq là con đẻ của một số nhân vật trong và ngoài chính phủ theo hệ phái tân bảo thủ (neoconservative - neocons) như Donald Rumsfeld, Dick Cheney, Paul Wolfowitz, John Bolton, Douglas Feith, Richard Perle, Max Boot và William Kristol … để chống lại nạn khủng bố, đồng thời phát huy dân chủ cho vùng Trung đông làm cột trụ bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ. Dư luận cũng cho rằng cuộc chiến tranh Iraq chỉ là sự khởi đầu sự bành trướng ảnh hưởng của Hoa Kỳ bằng sức mạnh quân sự, và biến cố 11 tháng 9 năm 2001 chỉ là một lý cớ.
Nhưng sự hiện hữu của khuynh hướng tân bảo thủ không phải là một biến cố bất thường. Nó có nguồn gốc từ thế kỷ trước, kinh qua những giai đoạn bành trướng đế quốc của Hoa Kỳ, và là một sự tái diễn của lịch sử. Vấn đề là: nếu tổng thống George W. Bush nắm vững những bài học quá khứ thì sự tái diễn của lịch sử sẽ không diễn ra theo chiều hướng bất lợi cho Hoa Kỳ như cuộc chiến Iraq hiện nay.
Có hai bài học lịch sử của Hoa Kỳ, một tại Phi Luật Tân, một tại Mexico, và một bài học lịch sử của Anh quốc tại Trung đông. Năm 1898 Hoa Kỳ đánh bại Tây ban Nha và đuổi Tây Ban Nha ra khỏi quần đảo Phi Luật Tân. Nhưng thay vì trả độc lập cho Phi, tổng thống William McKinley (một nhiệm kỳ 1897-1901) bổ nhiệm một vị toàn quyền và biến Phi thành một thuộc địa. Nhiều năm sau đó Hoa Kỳ thẳng tay đàn áp phong trào nổi dậy đòi độc lập, một phong trào trước đó Hoa Kỳ đã khuyến khích và giúp đỡ chống lại người Tây Ban Nha. Sau 14 năm Hoa Kỳ mới dập tắt được phong trào giành độc lập của người Phi với một đoàn quân viễn chinh 120.000 người, 4.000 binh sĩ Mỹ tử thương, và 200.000 người Phi gồm quân nổi dậy và thường dân bị giết. Năm 1935 tổng thống Franklin Roosevelt biến Phi thành một vùng đất liên hiệp (commonwealth) chuẩn bị trao trả độc lập cho Phi. Năm 1942 Nhật Bản chiếm đóng Phi, và được Hoa Kỳ giải phóng và ban bố độc lập năm 1945 với một thể chế dựa vào thể chế chính trị Hoa Kỳ.
Chiến tranh tại Phi vừa dứt, năm 1913 tổng thống Woodrow Wilson (hai nhiệm kỳ tổng thống 1913-1921) đưa quân vào Mexico nói là để tái lập dân chủ ở đó sau khi tướng Victoriano Huerta ám sát tổng thống dân cử Francisco Madero và đoạt quyền bính. Nhưng thay vì được đón tiếp như một đoàn quân giải phóng, quân đội Hoa Kỳ đã gặp phải sự kháng cự của người Mexico thuộc cả hai phe phái thân và chống tướng Huerta. Các cuộc cướp bóc và biểu tình phản đối diễn ra khắp nơi.
Tiếp đến là trận Thế giới đại chiến thứ nhất (1914-1918) mà nguyên nhân một phần do sự cạnh tranh bành trướng đế quốc của các nước châu Âu, làm cho tổng thống Wilson nhận ra rằng: phương pháp lý tưởng để ngăn ngừa chiến tranh là tháo bỏ chế độ thuộc địa, cái gọi là chủ thuyết Wilson (Wilsonianism). Chủ thuyết Wilson chủ trương quyền dân tộc tự quyết, giảm vũ trang toàn thế giớì, thiết lập một chế độ mậu dịch tự do, và bảo đảm an ninh chung thông qua sự đồng thuận quốc tế. Chủ thuyết này là hành trang cải hóa thế giới của tổng thống Wilson mà ông tin là một nhiệm vụ thiên định của Hoa Kỳ.
Bài học thứ ba của Anh quốc tại Trung đông. Năm 1914, Thế chiến I bùng nổ, Anh quốc chiếm Trung đông để bảo đảm nguồn cung cấp nhiên liệu, đồng thời giải quyết sự tranh chấp giữa người A Rập và người Do thái tại Palestine. Anh quốc đã sa lầy tại Trung đông cho đến năm 1956 sau khi cùng với Pháp và Do Thái đánh chiếm sông đào Suez của Ai Cập không thành công, phải rút ra khỏi Trung đông.
Các cuộc chiến tại Phi và Mexico của Hoa Kỳ và tại Trung đông của người Anh cho thấy hai điều: thứ nhất không thể áp đặt dân chủ bằng vũ lực. Dân chủ của một nước phải là một quá trình. Thứ hai, xâm lăng thì dễ nhưng bình định thì khó.
Nguyên thủy, cho đến cuối thế kỷ 20, Hoa Kỳ là một nước chủ trương chống thuộc địa theo truyền thống lịch sử lập quốc (chống đế quốc Anh để giành quyền độc lập). Nhưng sau khi thắng Tây ban Nha trong cuộc chiến tranh Mỹ-Tây Ban nha (1898) tổng thống William McKinley của Hoa Kỳ thấy có một cơ hội biến một phần các thuộc địa cũ của Tây Ban Nha thành thuộc địa của mình. Tại Hoa Kỳ xuất hiện một khuynh hướng thuộc địa chủ trương rằng Hoa Kỳ không thể để cho các quốc gia Tây phương như Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật chia nhau thống trị thế giới. Và rằng, Hoa Kỳ cũng cần thuộc địa để bành trướng thế lực quân sự, tạo thị trường để đầu tư và truyền bá văn minh Tây phương. Khuynh hướng bảo thủ bắt đầu. Hai nhân vật ủng hộ chính sách thuộc địa này không ai khác hơn là phụ tá bộ trưởng bộ Hải quân Theodore Roosevelt và sử gia Woodrow Wilson. Cả hai sau này khi trở thành tổng thống: Theodore Roosevelt (hai nhiệm kỳ 1901-1909), và Woodrow Wilson đã nhìn lại và chống chính sách thuộc địa.

Điều làm cho tổng thống Theodore Roosevelt lo ngại là tại Á châu, Nhật Bản đánh bại Nga năm 1905, trong khi tại Âu châu các đế quốc thuộc địa chỉ chực đánh nhau vì đụng chạm quyền lợi của nhau liên hệ đến việc bành trướng thuộc địa. Cho nên tổng thống Roosevelt chấm dứt chủ trương bành trướng của Hoa Kỳ và đóng vai hòa giải giữa các đế quốc thuộc địa Âu châu. Đối với tổng thống Wilson, kinh nghiệm can thiệp để biến Mexico thành nước chư hầu thất bại, và trận Thế giới đại chiến thứ I (mà tổng thống Theodore Roosevelt muốn ngăn ngừa không được) là hai yếu tố chính đưa ông đến quyết định dứt khoát từ bỏ chính sách thuộc địa, và sự ra đời của chủ thuyết Wilsonianism để thiết lập một trật tự mới trên thế giới.
Chủ thuyết Wilson không thành công vì các thế lực đế quốc Âu châu không đồng ý, và tại Hoa Kỳ khuynh hướng bành trướng thế lực bằng vũ lực vẫn còn mạnh. Sự thất bại của chủ thuyết Wilson đưa đến trận Thế giới đại chiến thứ hai. Cho nên sau trận đại chiến này tổng thống Franklin Roosevelt (ba nhiệm kỳ 1933-1945, anh em họ với tổng thống Theodore Roovevelt) người có công giải phóng Âu châu khỏi họa Đức quốc xã, đã dùng tư thế mới để áp lực hai nước thắng trận là Anh và Pháp từ bỏ mộng đế quốc, trao trả quyền độc lập cho các thuộc địa.
Nhưng cuộc chiến tranh lạnh với Liên bang Xô viết làm cho Hoa Kỳ không thể thẳng tay áp lực Anh và Pháp, nhất là Pháp vì Hoa Kỳ cần đồng minh tại Âu châu để đối đầu với Liên bang xô viết. Về phần mình, Hoa Kỳ cũng không thể để cho phong trào giành độc lập tại các thuộc địa bị các tổ chức thân Mác xít thao túng nên đã dùng sức mạnh của mình để giữ các quốc gia cựu thuộc địa tại Nam Mỹ, Á châu và Trung đông trong vòng ảnh hưởng. Hoa Kỳ thống trị các quốc gia này bằng viện trợ kinh tế. Sức mạnh quân sự chỉ dùng trong trường hợp tối cần thiết. Chính sách này gọi là chính sách tân thuộc địa đã mang chiến tranh lạnh đến Nam Mỹ, Á châu và Trung đông. Thí dụ rõ nhất là cuộc chiến tranh Việt Nam khi Hoa Kỳ giúp đỡ Pháp thiết lập lại chế độ thuộc địa tại đó và sau khi Pháp bại trận (Điện Biên Phủ 1954) đã đổ quân đến bảo vệ miền Nam Việt nam.
Cuối thập niên 1980 Liên bang Xô viết sụp đổ, Hoa Kỳ có mọi điều kiện thực hiện chủ thuyết Wilson. Hoa Kỳ chủ trương bành trướng ảnh hưởng và duy trì quyền lợi quốc tế của mình bằng cách xiển dương hòa bình, dân chủ, và sức mạnh quân sự chỉ xử dụng với sự đồng thuận quốc tế. Sau khi Saddam Hussein xâm lăng Kuwait, tổng thống Goerge Bush đưa đại quân qua Trung đông đuổi quân chiếm đóng Iraq ra khỏi Kuwait với sự chấp thuận của Liên hiệp quốc, và rút quân về. Tổng thống Clinton cũng chỉ đưa quân đến vùng Balkans để ngăn chận nạn diệt chủng với sự hợp tác của khối NATO.
Tuy nhiên, khuynh hướng chống chủ thuyết Wilson vẫn còn là một chủ lực trong sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ. Đó là những Paul Wolfowitz, John Bolton, Douglas Feith, Richard Perle trong chính quyền và Max Boot (của tờ Wall Street Journal) và William Kristol (của tờ Weekly Standard) trong giới truyền thông họp thành nhóm tân bảo thủ (neocons). Nhóm này nắm cơ hội vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 để thuyết phục tổng thống George W. Bush và những phụ tá như phó tổng thống Dick Cheney, bộ trưởng quốc phòng Donald Rumsfeld và cố vấn an ninh quốc gia Condoleeza Rice gạt bỏ chủ thuyết Wilson và bắt đầu thời đại bành trướng thế lực của Hoa Kỳ bằng sức mạnh quân sự, có sự đồng thuận của quốc tế thì tốt, nếu không thì cũng không phải là điều phải quan tâm. Nhóm neocons tại Hoa Thịnh Đốn không nhìn sự thành hình của tổ chức Al Qaeda như một phản ứng của người Hồi giáo đối với các chính sách của tây phương, nhất là thái độ bênh Do Thái của Hoa Kỳ đối với cuộc tranh đấu lập quốc của người Palestine, mà cho rằng Al Qaeda chỉ là con đẻ của một con người bệnh hoạn (Osama bin Laden), nuôi dưỡng hận thù vì ghen tức với sự “thành công vật chất và sự tự do” của Mỹ quốc.
Cho nên cuộc tấn công lật đổ Saddam Hussein (mà không có sự đồng thuận quốc tế) sau khi chiến thắng dễ dàng tại Afghanistan (với sự đồng thuận của quốc tế) với lý do (không vững chắc) Saddam Hussein có liên hệ với al Qaeda và có vũ khí giết người tập thể (có thể cung cấp cho al Qaeda để khủng bố Hoa Kỳ) chỉ là một bước tự nhiên.
Tuy nhiên nếu nghiên cứu kỹ bài học Phi Luật Tân và Mexico của mình và bài học Trung đông 50 năm trước của người Anh, tổng thống Bush sẽ không vội vàng đánh Iraq mà không có sự chấp thuận của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, với niềm tin tưởng hảo huyền rằng dân chúng Iraq sẽ mua hoa và rước đèn đón mừng đoàn quân giải phóng Hoa Kỳ.
Vị tổng thống tương lai của Hoa Kỳ, dù đó là George Bush hay John Kerry cũng không thể làm ngơ trước những kinh nghiệm quá khứ của hai tổng thống Theodore Roosevelt và Woodrow Wilson để hình thành một chính sách Wilsoniniasm mới, nếu như sự kết thúc cuộc chiến Iraq không làm cho Hoa Kỳ quá tổn thương.
Trần Bình Nam
July 4, 2004
[email protected]
http://www.vnet.org/tbn
Tài liệu tham khảo:
1. “Imperial Amnesia” by John B. Judia, tạp chí Foreign Policy July/August 2004 (John Judy
2. “Fumbling the moment” tuần báo The Economist, June 4, 2004
3. Presidential Biographies, United States, Britannica Almanac 2004

Khi nói đến quyền lực tại Hoa Kỳ, người ta thường nghĩ trước hết tới Tổng Thống, Quốc Hội, các cuộc bầu cử, hay những cuộc vận động ngoài đường phố. Nhưng trong lịch sử Hoa Kỳ, còn có một quyền lực lặng lẽ âm thầm hơn, mà ảnh hưởng nhiều khi kéo dài hơn cả một đời tổng thống: Tối Cao Pháp Viện.
Chicago vừa có thêm một địa điểm đáng tham quan: Trung tâm Tổng thống Barack Obama, khai trương ngày 19 tháng 6 năm 2026, tại khu South Side — nơi gắn liền với bước khởi đầu chính trị của ông. Nhưng gọi đây là “thư viện tổng thống” e chưa đủ. Trên khu đất rộng gần 19 mẫu Anh là một quần thể vừa mang dáng dấp viện bảo tàng, vừa giống công viên sinh hoạt cộng đồng. Có bãi cỏ cho trẻ con chạy chơi, có sân bóng rổ đúng chuẩn, có cả những khoảng không để ngồi đọc sách, nghe nhạc, hay đơn giản là… nghỉ chân.
Mỗi độ tháng Sáu, sự chú ý của công luận Hoa Kỳ lại dồn về Tối cao Pháp viện, khi cơ quan này lần lượt công bố những phán quyết có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Nhưng ít ai biết rằng trước khi một phán quyết được đăng tải trên các trang nhất các tờ nhật báo, nó đã được hình thành qua một tiến trình pháp lý chặt chẽ và phần lớn diễn ra sau cánh cửa kín. Tiến trình ấy gồm nhiều giai đoạn: từ việc chọn lọc đơn kiện, hội nghị nội bộ, nộp bản luận cứ, khẩu luận, cho đến khi ban hành ý kiến chính thức của tòa. Theo các học giả luật hiến pháp, muốn hiểu cách cơ quan tư pháp cao nhất nước Mỹ định hình chính sách, cần nhìn vào chính guồng máy vận hành kín đáo nhưng nghiêm ngặt này — nơi các tranh chấp văn hóa và chính trị lớn được cân nhắc và định đoạt.
UAV thời nay được gọi là phương tiện điều khiển không người lái, hay còn được gọi là vũ khí điều khiển từ xa. Thực ra, UAV không phải là loại vũ khí mới mẻ gì, nó đã được chế tạo vào năm 1918 bởi hãng Dayton-Wright Airplane Company tại Hoa Kỳ vào cuối Thế Chiến thứ I, với cái tên là Kettering Bug. Ngày nay, UAV được chế tạo tối tân hơn, và sử dụng rộng rãi, thành công, tỏ ra rất hiệu quả trên chiến trường. Vũ khí UAV bây giờ không chỉ tàn phá, san bằng những tòa cao ốc thành những đống gạch vụn, nó được chính con người tạo ra để giết con người. Tiếc thay, ngày nay, thế giới vẫn chưa học được cách ngừng làm tổn thương nhau và vẫn chạy đua vũ trang để tiêu diệt lẫn nhau.
Chiều ngày 21 tháng 5 năm 1796, tại dinh tổng thống ở Philadelphia, George Washington và gia đình ngồi vào bàn ăn. Đó là một trong những bữa tối cuối cùng của họ trong thành phố, trước khi trở về Mount Vernon nghỉ hè. Bên ngoài nhịp sinh hoạt quen thuộc ấy, một người đàn bà trẻ đang chuẩn bị cho một cuộc ra đi không có đường trở lại. Tên bà là Ona Judge. Bà bị giữ trong thân phận nô lệ trong nhà Washington. Trong lúc gia đình vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ dùng bữa, Judge lặng lẽ bước ra khỏi dinh thự. Không trống, không kèn, không nhân chứng chính thức. Chỉ có một người đàn bà trẻ rời khỏi nơi giam giữ đời mình để đi về phía tự do.
Trong chính trị học, guồng máy chính quyền hay nhà nước dân chủ như quy định trong hiến pháp bao gồm 3 thực thể gọi là tam quyền phân lập: Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp.Vì tính tối cao của hiến pháp nên trách nhiệm bảo vệ hiến pháp là nền tảng không thế thiếu trong một nền dân chủ pháp trị chân chánh. Chính quyền vận hành theo trình tự được quy định trong hiến pháp và hiến pháp này luôn được bảo vệ bởi một định chế độc lập, giám sát sự vận hành của lập pháp và hành pháp. Định chế độc lập này thông thường là một Tối Cao Pháp Viện, đứng đầu ngành Tư Pháp.
Một khuynh hướng khinh ghét phụ nữ đang dần trở thành sợi dây liên kết quan trọng trong giới bảo thủ tại Hoa Kỳ. Mục sư Douglas Wilson gần đây đưa ra một “đề nghị khiêm tốn”: hủy bỏ Tu chính án 19, tức điều khoản Hiến pháp bảo đảm quyền đi bầu của phụ nữ. Theo ông, đời sống chính trị nên tổ chức như trong giáo hội, nghĩa là mỗi gia đình chỉ có một lá phiếu. Wilson là người đồng sáng lập một hệ phái Tin Lành cải cách đặt trụ sở tại Moscow, tiểu bang Idaho. Trong gần nửa thế kỷ, ông gây dựng tại đây một mạng lưới gồm nhà xuất bản, trường học, đại học và truyền thông, cùng cổ võ một quan niệm xã hội đặt nền trên thần quyền. Giáo phái của ông có khoảng 170 nhà thờ. Bộ trưởng Quốc phòng hiện nay, ông Pete Hegseth, là một tín đồ, và hồi tháng Hai vừa qua, chính Wilson được mời đến chủ lễ cầu nguyện tại Ngũ Giác Đài. Vì vậy, khi ông nói đến việc tước quyền bầu cử của một nửa dân số, không phải là không có người lắng nghe.
Bạn có thể viết một ca khúc có câu chuyện hay nhất thế giới, một giai điệu đẹp nhất bạn từng nghĩ ra, một câu “móc” đắt giá, nhưng nếu bạn đặt chúng vào sai cấu trúc, bài hát của bạn vẫn sẽ thất bại, vì nó trở thành xa khúc. Người nghe sẽ bỏ đi giữa chừng mà không hiểu tại sao họ thấy chán, và bạn cũng sẽ không hiểu tại sao tác phẩm tâm huyết của mình không chạm được ai.
Cuộc bầu cử sơ bộ ở California sẽ góp phần định hình tương lai bang đông dân nhất nước Mỹ trong nhiều năm tới. Đảng Dân chủ cầm quyền đứng trước một bước ngoặt, trong khi dân chúng vẫn xoay xở với đời sống đắt đỏ, lo các đợt truy quét di dân và thiên tai do biến đổi khí hậu. Dù vậy, nhiều người vẫn chưa mấy quan tâm đến các cuộc đua ảnh hưởng trực tiếp đời sống của họ, nhất là ghế thống đốc. Tuần này, tình hình có thể đổi khác, khi diễn ra hai cuộc tranh luận truyền hình liên tiếp giữa các ứng viên thống đốc, bắt đầu với chương trình trên CNN lúc 6 giờ chiều thứ Ba, giờ California. Các cuộc tranh luận diễn ra đúng lúc lá phiếu đã được gởi đến đa số cử tri, để họ có thể bỏ sớm trước ngày 2 tháng 6.
Sau nhiều dự án lãng phí vì không đạt được mục đích mà còn gây thiệt hại nặng nề cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau hoàn toàn thất bại, dự án cống đập Ba Lai gây rối loạn toàn bộ hệ sinh thái, dự án thoát lũ ra biển Tây cắt mất lũ tự nhiên, nguồn phù sa dinh dưỡng và gây ra sạt lở và sụt lún. Dự án cống đập Cái Lớn Cái Bé có hiệu quả ngăn mặn ngắn hạn, nhưng làm ngọt mặn xáo trộn không đồng bộ với nhu cầu của đồng bằng. Vì thế công trình lớn nào đưa ra bây giờ đều cần phải cân nhắc tránh rủi ro, nhất là những rủi ro có thể thấy trước phải tránh né ngay từ đầu, hay phải có biện pháp giảm thiểu tối đa
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.