Hôm nay,  

TUYẾT

24/01/202011:05:00(Xem: 6167)

Tuyết! Đấy là cái ám ảnh dai dẳng của tôi trong một thời gian rất dài. Nước tôi không có tuyết, và lẽ dĩ nhiên cũng không có nhiều món đặc trưng khác của Tây, của Tàu, của Châu Phi chẳng hạn, thế nhưng ước mơ của tôi được thấy tuyết tận mắt là tha thiết hơn cả. Nhớ thời còn học Trung Học, gặp đâu đó một câu thơ hay câu hát I’m dreaming of a White Christmas, cái ước mơ đó càng thêm ray rứt, như mơ về một chốn bồng lai tiên cảnh nào đó mà kiếp này mình không bao giờ đến được. Trong những giấc mơ đó, tôi thấy tuyết đẹp vô cùng dù tôi cũng biết có những cơn bão tuyết làm chết người. 

Liệu có kiếp trước, kiếp sau, hay không? Nếu có, chắc là kiếp trước tôi sinh trưởng tại một vùng thuộc Bắc Cực hay Nam Cực, hay Ôn Đới, rồi lìa đời, và trước khi đầu thai làm người vùng Nhiệt Đới của kiếp này, tôi không bị ăn cháo lú. Cho nên nhớ tuyết không nguôi; nỗi nhớ nằm sâu trong vô thức, hay là, xin mượn tiếng Nhà Phật, nằm trong tàng thức. Thế thì nếu kiếp sau tôi là người của Phương Tây, của xứ lạnh, tôi sẽ mơ tưởng những gì? Phải chăng tiếng ve sôi động từng hồi và hoa phượng đỏ rực sân trường muà hè, tiếng ểnh ương ệnh oạng miên man rầu rầu trên những cánh đồng hoang lụt lội mùa đông, tơ trời bay vương vấn trên cao vào mùa thu của những ngày tựu trường sau ba tháng vui chơi, mưa phùn hạt nhỏ như sương mát rười rượi “cuốn theo chiều gió” những ngày sau Tết. Và gì nữa? Còn nhiều lắm, kể sao hết. Nhưng cũng phải kể thêm một nỗi nhớ khác nữa thôi, những rặng tre thân yêu, kiên trì, đu đưa kẽo kẹt quanh năm suốt tháng trong khắp các làng gần, làng xa.    

Việt Nam ta từ xưa không có tuyết. Gần đây nghe nói, vì những biến đổi thời tiết, mùa đông tuyết rơi nhiều xuống vùng núi non miền Bắc, Hoàng Liên Sơn, Lào Cay, đặc biệt thị tại trấn Sa Pa. Người ta xôn xao, nao nức. Những người có phương tiện đua nhau đến đó thưởng thức tuyết. 

Tuyết mới có tại nước ta, nhưng đã xuất hiện nhiều trong văn chương, phim ảnh. 

Trong văn chương, phải kể đến văn chương cổ điển Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Tàu. Mà Tàu thì nhiều tuyết vào mùa lạnh. Chỉ nêu một bài thơ ngắn tả bốn cảnh đẹp của Đỗ Phủ, trong đó tuyết đã chiếm một câu:


Tuyệt Cú


Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu

Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên

Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết

Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền

                                              Đỗ Phủ


Tản Đà dịch:


Câu Tứ Tuyệt

Hai cái oanh vàng ca liễu biếc

Một hàng cò trắng vút trời xanh

Nghìn năm tuyết núi song in sắc

Muôn dặm thuyền Ngô bến rập rình


Trong ba tác phẩm cổ điển dài hơi rất giá trị của ta đều có tuyết. 

Đối với nhà vua khi còn say đắm nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc, tuyết là một nguồn trợ hứng:

Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt

Lúc cười sương cợt tuyết đền phong


Nhưng lúc cung nữ bị thất sủng, tuyết trở thành một nỗi thê lương ảo não của nàng:


Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu

Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông


Với Chinh Phụ Ngâm, trong nỗi nhớ và tưởng tượng của người chinh phụ về những gian khổ của chồng ngoài chiến địa, thì tuyết:


Sương như búa bổ mòn gốc liễu

Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô


Truyện Kiều tất nhiên có tuyết. Tuyết là màu da trong ngọc trắng ngà của Thúy Vân:


Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da


hoặc là một trong bốn vẻ đẹp cổ điển của thiên nhiên – tuyết, nguyệt, phong, hoa:


Đòi phen gió tựa hoa kề    

Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu


Thơ cổ Phương Đông đến với tuyết bằng những nét chấm phá, nhiều khi chỉ mang tính cách biểu tượng. Phương Tây, trái lại, tuyết được mô tả hiện thực, tỉ mỉ, chi tiết, và sống động, trong văn học cũng như trong điện ảnh. Chỉ xin nêu một ví dụ. Vào thập niên 1960, cuốn tiểu thuyết Doctor Zhivago của Boris Pasternak và cuốn phim cùng tên được phổ biến và gây xúc động lớn đối với người đọc truyện và khán giả xem phim ở Sài Gòn hồi đó. Những quay cuồng chóng mặt của một xã hội tao loạn đảo điên bị bứng lên tận gốc rể bỗng dưng nổi bật lên bằng những hình ảnh tuyết mênh mông trắng xóa cả trời đất, trong đó bác sỹ Zhivago gặp gỡ rồi xa lìa “người tình thất lạc” Lara. Cuộc tình đau thương ấy trong bối cảnh cách mạng vô sản xẩy ra ở Liên Xô rồi lan qua Đông Âu, Tàu, Việt Nam, làm ta nhớ tới những chấn động tương tự khi đọc bài thơ nổi tiếng của Thanh Tâm Tuyền được viết ngay sau cuộc tàn sát đẫm máu của Hồng Quân Liên Xô trên đất nước Hung Gia Lợi, Hãy Cho Anh Khóc Bằng Mắt Em/Những Cuộc Tình Duyên Budapest. Xin chép lại bài thơ Encounter được dịch ra tiếng Anh phần cuối cuốn sách: 


Encounter

The snow vill bury roads,

Will cover the roofs deeply.

If I step out to stretch my legs

I will see you from the door.


Alone, in a fall coat,

No hat and no snow boots;

You are trying to be calm,

Nibbling your snow-wet lips.


The distant trees and fences

Recede into the murk.

You stand at the corner

Alone in the midst of the falling snow.


Water runs down your scarf,

Inside your sleeves, your collar,

And melted snow sparkles

In dewdrops on your hair.


And a flaxen strand of it

Lights up your face, your scarf,

Your bravely erect figure,

That wretched coat of yours.


Snow melts upon your lashes.

Sadness in your eyes.

And all of you seems fashioned

Out of a single piece.


It is as if your image

Were being etched forever

With burin and strong acid

Upon my very heart. 


    Nor can your submissive features

Ever be burnished off.

And so, what does it matter

If the world is stonehearted?


And so, this night is doubling itself

With all its murk and snow

Anh I cannot draw a line

Dividing you and me.


For who are we, and where from,

If after all these years

Gossip alone still lives on

While we no longer lives?

Bài thơ trên nguyên tác tiếng Nga, được Bernard Guilbert Guerney dịch ra tiếng Anh, nay lại từ tiếng Anh dịch ra tiếng Việt. Nhưng như thi hào Mỹ Robert Frost đã nói rất chí lý,  Poetry is what gets lost in translation (Thơ bị mất mát khi chuyển ngữ). Đành mạo muội dịch thoát nếu không muốn nói là làm một bài thơ khác phỏng theo bài thơ tiếng Anh. Chỉ mong gợi lên một ít giao cảm, một chút hình ảnh nào đó của tuyết: 

         

                      Gặp Gỡ


Tuyết rơi đầy đường sá

Tuyết phủ ngập mái nhà

Anh bước ra khỏi cửa

Là thấy em đằng xa


Một mình áo quàng rủ

Không nón không giày ấm

Em đang cố nén lòng

Răng cắn môi lạnh cóng


Bờ dậu cùng hàng cây

Nhạt nhòa trong tối lạnh

Em vẫn đứng một mình

Tuyết mênh mang cô quạnh


Nước là dòng lệ chảy

Ướt đẫm chiếc khăn choàng

Tuyết giọt châu long lanh

Rưng rưng trên mái tóc.


Mớ tóc em vàng ánh

Thắp sáng lên khuôn mặt

Sáng  cả dáng em đứng

Trong áo quàng rách nát. 

Tuyết tan xuống hàng mi

Buồn dâng lên đôi mắt

Em có còn lại gì

Ngoài nỗi sầu chất ngất.


Hình bóng em thành tượng

Ghi tạc vào buổi chiều

Khắc sâu trong thời gian

Trong tim anh đau buốt.


Nét buồn em ủ rũ

Không thể nào  xóa nhoà.

Nhưng có đáng gì đâu 

Khi lòng người hóa đá.


Cho nên đêm hôm nay

Sẽ kéo dài thêm mãi 

Trong tuyết giá âm u

Em anh hoà lẫn nhau

Không gì chia cách nổi.


Này em ta là ai

Ta đã từ đâu tới

Rồi qua bao năm tháng

Ta sẽ đi về đâu

Để lại trên thế gian

Dăm ba lời đàm tiếu?


Tuyết quả đã tràn ngập suốt bài thơ, và đóng một vai trò chủ chốt bên cạnh nhân vật chính.

Như đã nêu trên, tuyết ám ảnh tôi. Nói đến tuyết, tôi chỉ nghĩ đến cái đẹp lạ lùng của nó. Tinh khiết, trong sáng, mông lung. Tuyết sạch giá trong. Cho nên gần 30 năm về trước khi vừa mới đến xứ Mỹ này, sống tại miền Nam Cali thuộc bán nhiệt đới, mùa Đông chỉ có thể thấy tuyết phủ lên vài ngọn núi ở tận cuối chân trời, chúng tôi, cả nhà, quyết định đi xa thăm tuyết ngay. Mua được một chiếc xe hơi cũ, vừa lấy xong bằng lái xe, tôi chở mọi người đi.

Lúc đó vào đầu mùa đông, tức là thời gian có nhiều tuyết tại công viên quốc gia Yosemite nổi tiếng. Nơi này cách xa chỗ chúng tôi ở khoảng trên 5 giờ lái xe. 

Hồi đó chưa có máy định vị GPS, chúng tôi nghiên cứu bản đồ thật kỹ. Hành lý mang theo rất nghèo nàn, mấy cái áo len cũ và dày, quần jeans, những bao ni-lông để nếu cần thì bọc những đôi giày đang mang vì không kịp và cũng không có tiền mua giày đi tuyết, xôi đậu phụng, bánh mì chả, thịt, mấy lon bia, và nước uống. Đi hơn nửa đường mới sực nhớ phải có loại dây xích ràng vào bánh xe phòng khi tuyết xuống nhiều và chuyển thành băng giá trơn trượt. Nếu gặp bảng chỉ đường đòi hỏi bánh xe phải có xích (Snow tire chains), thì chúng tôi đành phải quay về. May thay, chúng tôi đi suôn sẻ, đến được Yosemite khoảng 5 giờ chiều. 

Trời lạnh. Tìm thuê chòi ngủ qua đêm, mong ngày mai có tuyết rơi như dự báo thời tiết. Tôi biết tuyết đẹp nhất khi đang rơi.

Lạnh và đói. Lấy thức ăn, thức uống dọn lên trên cái bàn nhỏ dưới mái chòi chật ních. Những món ăn tầm thường bỗng ngon hẳn lên trong khung cảnh lạ lùng, trong mong đợi đêm mau qua. Nhìn lại đồng hồ, mới 9 giờ tối. Bên ngoài gió từng cơn, ánh đèn xa heo hút lọt qua khe cửa. Không biết làm gì, có lẽ phải đi ngủ sớm để ngày mai có sức đi ngắm tuyết, chúng tôi đồng ý như thế. 

Bỗng tiếng reo nổi lên từ những chiếc lều lân cận, rồi vang to trong đêm. Chúng tôi ngạc nhiên mở cửa lều ra xem. Tuyết vừa rơi xuống mà chúng tôi không biết. Tất nhiên tuyết cũng rơi trên mái lều của chúng tôi, rơi rất nhẹ, không tiếng động. Chúng tôi không hẹn mà cùng  nhau chạy nhào ra khỏi lều, may còn đang mặc áo quần ấm, nhưng quên mang theo mấy bao ni-lông. Tuyết tráng mỏng trên các lối đi tối tăm, rơi nhẹ lên tóc, lên mặt, lên mi mắt, lên tay. Bám lên áo quần dăm ba bông tuyết. 

Tôi cố nghe tuyết rơi, không nghe thấy gì cả. Tôi cố nhìn tuyết. Tối quá không thấy tuyết gần, chỉ thấy xa xa. Trong ánh đèn đường, những bông tuyết bay phơi phới như những cánh bướm trắng tí hon đùa giỡn trong gió, hay như những cánh hoa trắng, hoa bạch mai, hoa bạch cúc nhỏ, buông lả tả xuống thành bức rèm bạch ngọc. Bước chân dẫm lên tuyết nghe sào sạo, rột roạt, êm êm, mát dịu. Cứ thế chúng tôi đi xa khỏi lều, quên cả dưới chân giày bắt đầu ướt mèm. Mặt thì đưa ra hứng tuyết, tay chìa ra đón tuyết. Cao hứng cho tuyết vào miệng nếm thử. 

Tưởng là tuyết xuống nhiều là lạnh lắm, nhưng không, chỉ se se, rất dễ chịu. Đường đi ngập trắng, chúng tôi không biết đã lội tuyết trong bao lâu. Tuyết ngập lút cả giày, tan thành nước, thấm vào chân, dần dần lên gần đầu gối, và chắc chắn sẽ ngập cao hơn nữa. Chúng tôi đành trở lại lều lòng dặn lòng rằng ngày mai tha hồ thưởng thức tuyết trong ánh sáng của ban ngày.

Mệt quá, về tới lều chúng tôi lên giường ngủ. Tôi định ngủ một giấc ngắn lấy sức rồi trở  dậy coi tuyết rơi. Nhưng ngủ một giấc say. Sáng hôm sau, vừa mới dậy, tôi mở cửa ra nhìn. Hết rồi! Tuyết thôi rơi trong đêm khuya vào lúc nào tôi không biết. Đành lội tuyết đi quanh quất chơi trên mấy lối đi gần lều, thấy tuyết đã phủ đầy mái lều, mái nhà. Cây cành trĩu nặng tuyết, dây điện được bọc trong lớp tuyết trắng. Bãi đậu xe cũng trắng xoá, tất cả xe đang đậu đều đội một lớp tuyết dày. Nghe nói có một chiếc xe đậu bên ngoài xa trên dốc nghiêng đã bị trượt xuống hố sâu.  

Tôi đành lái xe quay trở về nhà sớm hơn dự định. Đường xa lộ thì đã được xe cào tuyết dọn sạch, nhưng hai bên đường cảnh vật khoác một chiếc áo hoàn toàn mới, chiếc áo trắng xóa tinh khiết một màu tuyết trải dài mút mắt. Núi rừng, cây cối, nhà cửa mênh mông, bát ngát trong tuyết trắng, một cảnh tượng thật lạ lùng mà tôi có cảm tưởng đã từng biết đến trong quá khứ. Vâng, tôi đã gặp tuyết nhiều lần trong phim ảnh. Tôi tự bảo rằng năm sau sẽ trở lại thăm tuyết, nhớ phải là khi tuyết đang rơi. 


Nhiều năm đã qua, nhiều mùa Đông tôi đã đi thăm tuyết tại nhiều nơi khác nhau. Có khi chúng tôi tới, tuyết chưa kịp xuống. Có khi tuyết đã phong kín cảnh vật đâu vào đấy rồi, mặt đất thì trắng xoá, trời thì cao xanh lồng lộng, trong veo. Có nơi tuyết đã đông lại thành băng bên dưới khiến con đường trở nên lầy trơn. Nhìn tuyết còn đọng trên chạc ba, chạc bốn của cây, của cành, đậu lên trên những thành cửa sổ, phủ kín mái nhà, thì cũng cảm thấy được an ủi phần nào, nhưng lại càng mong thấy tuyết rơi, tuyết rơi. Hoặc có lúc đang chạy trên xa lộ vào muà lạnh bỗng tình cờ gặp, như tao ngộ chiến, cơn tuyết bay bay nhẹ và ngắn. Mong nó trở lại như mong người tình nhẹ dạ. Và lỗi tại tôi, không tính kỹ ngày giờ. Lắm lúc tính kỹ thì dự báo thời tiết lại không đúng. Một lần nhớ tuyết quá, mò lên vùng núi Mammoth, California vào mùa Đông. Chỉ để say sưa nhìn ngắm người ta trượt tuyết.

*

Đầu mùa Đông năm nay có tin miền Bắc và Đông Bắc Hoa Kỳ tuyết xuống nhiều. Những cơn bão tuyết tàn phá dữ dội. Cho nên khi quyết định đi thăm tuyết, chúng tôi sẽ đến những miền gần phía Đông Nam mà thôi, chẳng hạn sẽ đi qua thị trấn Prescott mà chúng tôi đã đến vào cuối mùa xuân năm nay. Rồi đi Grand Canyon, và ghé Flagstaff trên đường về. 

Trở lại Prescott hôm đầu mùa đông, 22 tháng 12 cũng năm nay , tự nhiên thấy trong lòng vui hẳn lên như gặp lại người quen thân cũ nơi đất khách. Tôi tự hỏi tại sao tôi thích thành phố này đến thế. Có lẽ là vì người dân vùng này vui vẻ, nhã nhặn, sinh hoạt xúm xít tại một nơi thanh lịch, êm đềm, nhàn hạ. Cho nên chúng tôi nghỉ trưa nán lại tại đó khá lâu; đi nhiều vòng quanh công viên nằm trước Toà Án Yavapai County Courthouse; chụp nhiều hình tại ngã tư rộng lớn, dốc nghiêng nghiêng ngay giữa thị trấn; ghé vào một nhà hàng rất lịch sự, tiếp đãi niềm nỡ, có bánh pizza ngon và cà phê thơm phứt. Rồi giã từ Prescott, giã từ hình chữ P rất to trên sườn núi gần thành phố, để kịp đến Grand Canyon khi mặt trời chưa tắt.  

Tuy vậy, phải qua mấy ngọn đèo cao trên con đường nhiều xe, mãi đến 5 giờ chiều chúng tôi mới đến Grand Canyon, bờ Nam. Grand Canyon rực rỡ màu sắc dưới ánh mặt trời. Những màu sắc ấy đã thay nhau xuất hiện từ sáng đến chiều. May quá, còn chút nắng vàng óng ánh nạm lên trên những vách đá dữ dội, hùng vỹ, bao la. Đứng trước Grand Canyon, tôi có cảm tưởng như được hoá thân thành một cánh chim cô đơn bay lênh đênh, chấp chới, mơ màng, mờ ảo. Nhưng mùa này buổi chiều tối tới mau quá. Chúng tôi đến chưa được mười phút, mới gần 5 giờ 10, nắng đã phai nhanh rồi tắt. Ánh mặt trời xôn xao náo động mới đó đã đột ngột chuyển thành tiếng thì thầm, âm u của đêm đen. Chúng tôi tìm khách sạn, mong ngày mai trời tốt để trở lại Bờ Nam (South Rim).

Hôm sau, 23/12, trở trời. Gió lạnh và mây đục bàng bạc khắp nơi. Grand Canyon mang một sắc thái khác, trầm tư, lặng lẽ, xa vắng. Chúng không trở lại Bờ Nam nữa, mà đi vòng quanh để đến Bờ Bắc (North Rim) tìm tuyết. Nhưng đang bão tuyết, Bờ Bắc đóng cửa, cấm đi. Đành đi ven Bờ Đông. Tuyết cũ từ mấy tuần trước nằm rải rác từng vạt trắng cách xa nhau trên cỏ xanh hai bên đường. Tiện thể chúng tôi đi đến Horseshoe Bend và đập thủy điện trên sông Colorado cạnh hồ Powell thuộc vùng Page, Arizona, gần Utah. Đây là một cái đập lớn, cao gần bằng đập thủy điện Hoover nằm giữa hai tiểu bang Arizona và Nevada. 

Sau một ngày lái xe nhiều và đi bộ lên dốc, xuống dốc mệt nhoài, chúng tôi đến Flagstaff, Arizona thì đã gần tối. Trọ qua đêm tại một khách sạn. Thế là năm nay vô duyên không gặp được tuyết, tôi thầm bảo. Hay là qua đầu năm 2020, mùa Đông còn dài lắm mà, ta lại tìm thăm tuyết ở một nơi  nào khác chăng? Chúng tôi rút ngắn chuyến đi đã định là năm ngày, sáng ngày mai sẽ trả lại phòng khách sạn ở Flastaff. Và trên đường về sẽ ở lại Las Vegas một đêm xem thiên hạ đón mừng Lễ Chúa Giáng Sinh. Năm ngoái, cũng nhân đi tìm tuyết mà không gặp, chúng tôi ghé Las Vegas tham dự 2019 Countdown.

Để chờ giấc ngủ, chúng tôi mở TV hết đài này đến đài khác, tìm mãi chưa thấy chương trình nào vừa ý. Mới 9 giờ 30 tối. Bỗng cô con gái reo lên, Tuyết. Tuyết. Tuyết rơi! Tuyết rơi! Mọi người đổ xô chạy tới bên cửa kính nhìn tuyết rơi ngoài kia. Tuyết rơi rất mỏng, không một tiếng vang. Cũng phải thôi, ta trong căn phòng kín bưng, tuyết ngoài trời thênh thang, làm sao ta thấy rõ, nghe rõ. Tuyết xuống nhiều dần, trắng dần những vòm cây xanh, trắng hết bãi đậu xe, và những lối đi, trắng luôn những nóc xe. Lấy máy hình ra chụp tuyết rơi qua cửa kính. 

Xem chán, mọi người lên giường ngủ. Tôi mở rộng màn cửa sổ, nằm nghiêng ngắm tuyết ngoài kia. Những bông tuyết (snowflakes) to nhỏ khác nhau, không rơi nhanh, không rơi đều.  Tuyết rơi khác mưa rơi. Bông nhỏ thường rơi nhanh hơn trong khi bông lớn rơi chậm rãi, đu đưa, nghiêng ngã, du dương. Gọi là bông vì khi nhìn gần, nhìn kỹ, mỗi bông tuyết trông như một tác phẩm mỹ thuật chạm trổ tinh vi, có nhiều cánh chỉa ra thành hình sao. Bông thường có 6 cánh hoặc hơn, bằng nhau, đều đặn; mỗi cánh hoa lại được tô điểm bằng những cánh nhỏ cân đối, uốn éo, tuyệt đẹp. Tuyết rơi rơi tạo thành những bức rèm lung linh, trắng, mỏng, êm ái. Trông như Êm đềm trướng rủ màn che. Khi có gió nhẹ, tôi đoán thế, rèm uốn mình; gió mạnh rèm bay giạt, bông tuyết múa may. Có lúc rối loạn. Càng lúc tuyết càng xuống nhiều.

Mọi người đã ngủ say. Không đừng được, tôi mặc thêm áo ấm, xuống lầu mở cửa hông đứng nhìn tuyết ngay trước mắt không qua lớp cửa kính. Nhờ có ánh đèn điện, thấy tuyết lặng lẽ rơi man mác trong đêm khuya. Tuyết đậu nhiều trên những cành cao, nặng trĩu dần, đổ xuống những cành thấp hơn, cứ thế đổ xuống những cành thấp hơn nữa, cho tới khi chạm mặt đất. Rất nhẹ nhàng đến nỗi dường như không phát ra một âm thanh nào cả. 

Tôi mang dép bước ra ngoài hành lan vắng teo không một bóng người, ngắm tuyết rơi. Tuyết rơi đêm buồn buồn. Đã khuya quá, lạnh quá. Cuối cùng tôi cũng phải trở lại phòng, nằm nghiêng nhìn tuyết rơi ngoài kia và rơi trong này, trong giấc ngủ chập chờn của tôi. Tuyết xuống thưa dần, rồi hết hẳn. Để biết chắc, tôi nhổm dậy đến bên cửa kính nhìn quanh quẩn ra ngoài. Tuyết đã phủ kín trắng xóa mọi vật dưới trời đêm. Ánh đèn vàng hiu hắt. Nhìn đồng hồ, 3 giờ 30 sáng ngày 24/12.  Tôi tính nhẩm, tuyết rơi đúng 6 tiếng. Thôi, thế là hết.


Sáng dậy sớm xuống phòng ăn. Gần xong bữa ăn sáng, sắp trả phòng chuẩn bị lên đường, thuận mắt nhìn mông ra ngoài. Thì, kìa, kìa, kìa, lưa thưa hoa tuyết bắt đầu múa may trong không gian phía trên những vòm cây trước sân tuyết đã phủ trắng. Chẳng lẽ tuyết đêm hôm qua còn sót lại đâu đấy nơi một góc trời nào đó, bây giờ quay lại đây rơi xuống đùa giỡn trong vài phút ngắn ngủi rồi thôi? Hay là tuyết mới, tôi đang mong? Như để trả lời, tuyết rơi xuống mỗi lúc một nhiều, tuôn tuôn, lấp lánh, tung tăng, ròng ròng. Một số khách đứng dậy rời bàn ăn đi ra ngoài sân. Chúng tôi cũng bước vội ra không kịp trở về phòng lấy nón, và thêm áo ấm. Tuyết đang rơi, trời không lạnh như đêm qua. 

Trẻ con sung sướng reo hò, lội trong tuyết, té trong tuyết, vo tuyết thành từng nắm ném vào nhau. Có đứa thích thú quá nằm lăn trong tuyết há mồm cười, tuyết dính đầy mặt, mũi, miệng. Người lớn thì để cho tuyết rơi trên tóc, trên áo quần, nhớn nhác, hớn hở nhìn quanh, rồi lấy tay phủi nhẹ cho tuyết bay đi nơi khác trước khi áo quần bị tuyết tan thấm ướt. Tôi cũng ngửa mặt nhìn lên xem thử tuyết còn nhiều hay không. Tuyết bao la mù mịt, dày đặc. Tầm nhìn của tôi bị chận đứng ngay trước mắt.

Mấy bà mẹ có con thơ cũng quấn quýt bồng con ra ngài hiên cho chúng nó tiếp xúc với tuyết có lẽ là lần đầu tiên trong đời của chúng, trong khi những người cha hối hả chạy theo đưa điện thoại cầm tay bấm hình lia lịa.


Rời Flagstaff sáng 24/12, chạy trên xa lộ 40 West, và sẽ chuyển qua 93 North để hướng về đập Hoover, sau đó sẽ đến Las Vegas, dưới cả một trời tuyết đang rơi. Mặt đất nghiêng nghiêng, xe đổ xuống những con dốc thoai thoải dài thăm thẳm. Hai bên đường toàn là những gò đống hình thù kỳ lạ trắng xoá một màu, hay là những quãng trống mênh mông bát ngát, cũng một màu trắng xóa. Không còn biết đâu là nhà cửa, cây cối, đồi núi, hoặc đồng bằng xanh rì của những ngày tháng trước. Tuyết phủ hết mặt đất, tuyết choáng ngợp không gian. Không một cánh chim bay vút trên trời, không một đám bụi nổi lên từ dưới đất, không một âm thanh khuấy động. Tuyết rơi rơi liên miên, tuyết buông màn trong không gian thủy tinh, im lìm. Một cái gì thật tinh khiết, thật trong sạch, thật tĩnh lặng bao trùm lên vạn vật. 

Lâu lắm mới có một cơn gió mạnh, thì tuyết trên không là ngàn vạn cánh hoa bay tưng bừng, rối rít. Gió nhẹ hơn cũng đánh bạt những hoa tuyết trắng phau về một hướng.

Tuyết xuống càng lúc càng nhiều. Cái gạt nước của kính chắn gió trước xe cơ hồ không đủ sức xua tuyết đi. Con đường được xe cào tuyết dọn sạch lúc ban sáng, bây giờ lại đầy tuyết. Chúng tôi chạy theo xe đằng trước, nó chạy rất chậm để lại hai vết bánh xe mờ mờ. Chúng tôi không thấy gì khác hơn là tuyết mù mịt, như khít cứng, ngoài ánh đèn đuôi chấp chới của chiếc xe đằng trước, và hai vết bánh xe đó để lại thành hai lằn đen mờ mờ. Chúng tôi buộc lòng phải lái xe chạy thật đúng lên trên hai vết bánh xe ấy, vì chạy lệch đi sẽ không biết chạy đi đâu. Và cũng phải chạy thật gần xe trước, nếu không, vết bánh xe sẽ bị tuyết phủ trắng ngay. 

Tất nhiên chúng tôi không khỏi lo ngại rằng nếu chiếc xe đằng trước chạy lạc xuống ven đường, hoặc đâm vào gốc cây, hoặc nhào xuống ao, xuống hồ, hoặc ủi vào chiếc xe trước nó nữa, vân vân, thì chúng tôi cũng sẽ gặp tai nạn ngay. Nhưng biết làm sao, không còn cách gì khác. Không lẽ đạp thắng cho xe đứng ngay giữa đường để bị những xe nối đuôi húc vào? Muốn rẽ vào một lối đi nào cũng không được vì lý do giản dị là chúng tôi không thấy lối rẽ nào cả. Tuyết che lấp hết. Biển tuyết mênh mông không bờ bến đánh lạc mọi phương hướng. Tình trạng này kéo dài khá lâu, ít nhất là vài ba tiếng đồng hồ.


Trong vòng nửa tháng nay, các cơ quan truyền thông loan báo nhiều trận bão tuyết hoành hành tại miền Đông, và Đông Bắc nước Mỹ. Thiệt hại vật chất lên đến những con số khủng khiếp, kể cả sinh mạng con người. Thế nhưng không phải vì vậy mà tuyết bị lên án hay ruồng bỏ. Có lẽ người ta, trong đó có tôi, muốn phân biệt tuyết và bão tuyết. 

Vâng, tuyết không có tội mà còn có công. Tuyết rơi xuống để làm sạch trần gian đầy bụi bặm, phủ lên mặt đất một lớp tuyết dày, trả lại cho Mẹ Thiên Nhiên và môi trường sống tất cả cái tinh khiết, trong sáng vốn đã có. Lại nghĩ đến bài thơ Gặp Gỡ bên trên cùng những liên tưởng khác. “Tuyết rời đầy đường sá” cũng có thể nhằm khuyên răn tuổi trẻ hãy chậm bước lại, tiết giảm nhịp độ căng thẳng của cuộc sống máy móc, bớt bon chen giành giật, chém giết. “Tuyết phủ ngập mái nhà” phải chăng nhắc nhở tuổi già đừng quên ngồi bên lò sưởi những ngày đông tháng giá tìm chút yên tĩnh cho tâm hồn.  

Nhưng tuyết muốn yên, bão đâu để yên.

                                                                                                                                      1/2020

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.