Hôm nay,  

Nỗi Đau Còn Mãi

29/04/202014:04:00(Xem: 7396)
blank


          

Tôi không có kỷ niệm đau đớn uất hận trong tháng tư như những người lính buông súng thất thiểu trở về thành phố, không có những giây phút kinh hoàng trong dòng người di tản giữa mưa pháo trên những đại lộ vương vãi xác chết, không có cảm giác cuống cuồng chạy loạn xuống biển lên rừng để tìm đường thoát hiểm khỏi thảm họa Cộng Sản. Tôi cũng không có nỗi hốt hoảng lo lắng của kẻ thua cuộc trước sự thay đổi cả một xã hội miền Nam trong cái ngày gọi là giải phóng với những đợt đổi tiền tức tưởi hay đánh tư sản trắng tay mạt vận...

 

Tôi lúc đó bình yên trong ngôi nhà treo cờ đỏ của mình, để thấy người thân hân hoan chào đón ngày vui thống nhất đất nước. Bà Nội tôi cười móm mém “Hòa bình rồi, hết lo bị tụi Việt Cộng pháo kích” tôi lúc đó có ngây ngô cỡ nào cũng nhìn ra “tụi Việt Cộng” là ai. Thấy như mình bị hụt hẫng thất vọng cái gì đó không gọi được tên, cảm giác bồn chồn khó chịu trước sự thay đổi quá đột ngột mà mình chưa sẳn sàng để chấp nhận sự thật. Ở một nơi mà mình đã nhìn thấy đầu tiên khi mở mắt chào đời, nó hiện hữu thiêng liêng từ  ánh đèn ấm áp trong đêm tối hay vạt nắng sáng lung linh ngoài khung cửa sổ,  thấy ngôi nhà thân thương mà mình đã sống ở đó với bao buồn vui kỷ niệm êm đềm, rồi chợt có một ngày ai đó xồng xộc bước vào quát tháo, dẹp cái bàn thờ, gỡ mấy bức tranh phong cảnh, lấy đi cái lu , cái tủ, đuổi mọi người ra đường rồi ngang nhiên chiếm hết mọi thứ của cải và tự xưng mình là đầy tớ của nhân dân, nghe sao ngang ngược  và bực bội hết sức.

 

Tâm trạng của tôi lúc đó chỉ có vậy. Sự ngây thơ đến ngu ngốc, tôi lúc đó vô tư đến độ không phân biệt được chế độ Cộng hòa và Chủ nghĩa Xã hội khác nhau ra sao, không có khái niệm về Thế Giới Tự Do và khối Cộng Sản hay dở ở chỗ nào. Chiến tranh xảy ra ở đâu đâu trong miền Nam và không liên quan tới cái hẻm nhỏ của tôi, khi hàng ngày chúng tôi vẫn đến trường hồn nhiên vui đùa, hàng xóm vẫn chợ búa tấp nập, rạp chiếu bóng vẫn có phim hay cuối tuần và bác xích lô già đạp vài cuốc xe đủ sống là thong thả nằm khềnh đọc báo. Cuộc sống bình yên quá mà...

Gia đình tôi đâu có ai tử thương tử trận để thấy cuộc chiến khốc liệt tàn nhẫn đến thế nào khi lá vàng khóc lá xanh rơi, khi đàn bà con nít nháo nhào lo tản cư chạy giặc, đàn ông con trai tới tuổi quân dịch phải bỏ ruộng hoang nhà trống mà nhập ngũ hay vô bưng...Tất cả đều còn rất trẻ, cái tuổi còn sung sức, còn nhiều hoài bảo cho tương lai.

Vậy mà chiến tranh đã cướp mất tuổi trẻ của họ, giết chết mọi ước mơ của họ một cách tàn nhẫn.

 

Cái từ giải phóng miền Nam đã dạy cho tôi một bài học nhớ đời, đó là sự dối trá và phản bội.Không có giải phóng gì hết, chỉ có bên thua cuộc và bên thắng cuộc, tuổi trẻ miền Bắc chiến đấu vì một chủ nghĩa Cộng Sản ngoại lai, tuổi trẻ miền Nam thì chiến đấu chống lại sự xâm lược của miền Bắc để giữ vững thành trì Tự Do.
 

Tôi nghĩ VNCH có chính nghĩa trong cuộc chiến này,  nên khi Cộng Sản miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam thành công, những hô hào reo mừng của kẻ chiến thắng đã làm tôi thất vọng, bực tức. Bên nào cũng là người Việt, bên nào cũng máu đỏ da vàng.Cuộc chiến kéo dài quá lâu với biết bao thảm cảnh mất mát đau buồn của cả hai miền đất nước. Nhưng ngay cái ngày tang tóc thương tâm đó Cộng Sản Bắc Việt lại giăng đèn kéo hoa để chào mừng mùa Xuân đại thắng, họ đã hát trên những xác người, trên các tử thi còn nằm lăn lóc suốt đoạn đường di tản giữa những đại lộ kinh hoàng vì bom đạn trong tháng tư đen tối ấy.

Đã mấy chục năm trôi qua tôi vẫn thấy đau buồn mỗi khi nghĩ đến những năm tháng đáng nguyền rủa đó.

Tôi nhớ những tên cách mạng hùa mang băng đỏ chạy vòng vòng thành phố như thị uy đe dọa, nhưng trong mắt dân chúng miền Nam lúc bấy giờ thì bọn chúng chỉ bẩn thỉu như những con chó săn. Và ngày nay cái đám dư luận viên hay công an đàn áp những người yêu nước biểu tình ôn hòa trong nước cũng chỉ là loại côn đồ đê tiện.

 

Tôi nhớ hoài ánh mắt như có lửa của người đàn ông đứng ở ven đường nhìn tên việt cộng xé lá cờ vàng vùi trong thùng rác, bàn tay anh nắm chặt để ghìm cơn phẩn nộ. Sau này tôi thắm cái đau của các vị tướng lãnh đã tự sát ngay trong thời điểm đó Họ chọn cái chết đứng thẳng kiêu hùng.

 

Gần nửa thế kỷ trôi qua, những đứa trẻ đã sinh ra sau 4/1975 và lớn lên trong chế độ Cộng Sản, như những hạt giống vô tình, gieo ở nơi nào thì ảnh hưởng thổ nhưỡng nơi đó, không khó khăn khi nhận dạng những hạt giống nhuộm đỏ bạo lực và gian manh trong xã hội Việt Nam ngày nay.

 

Dĩ nhiên không phải là tất cả nhưng tìm nam thanh nữ tú thanh lịch như ngày xưa thì nay đã hiếm hoi. Không ai có thể chọn lựa nơi mình sinh ra, nhưng có thể chọn lựa Tổ Quốc để mình yêu quý, có thể nhận thức được giá trị tốt đẹp để mà noi theo sống cho tử tế đàng hoàng. Điều đáng buồn là có rất nhiều giới trẻ ngày nay không nhận ra vị trí của mình.

 

Sau mấy mươi năm cai trị Cộng Sản đã biến đất nước Việt Nam giàu đẹp thành bãi rác, biến người thanh lịch thành lớp tư bản đỏ kệch cởm, hống hách, biến những đứa trẻ tiểu học đã biết chửi thề và bạo lực, biến những người dân lương thiện thành cừu non và xưng tụng tên lưu manh làm kẻ chăn dắt.

 

Cái đau luôn âm ỉ trong trái tim của người Việt lưu vong như chúng tôi, không phải đợi đến tháng tư đen mới kêu gào than thở nhưng đó là cái mốc thời gian của một lịch sử bi thảm nhất, khủng khiếp nhất mà dân tộc Việt Nam phải xót xa viết bằng máu của hàng triệu triệu đồng bào.

Mãi mãi chúng tôi không bao giờ quên Cộng Sản miền Bắc đã bức tử dân miền Nam bằng mọi thủ đoạn tàn ác sau ngày đại thắng vinh quang đó, trại tù đã mọc lên suốt chiều dài đất nước, kéo theo biết bao gia đình tan nát, khốn khổ bởi sự trả thù hèn hạ của bên thắng cuộc, những cái chết vùi dập như xác con thú hoang bên ven rừng.

 

Người giàu sự nghiệp cũng trắng tay do chánh sách đánh tư sản và mấy đợt đổi tiền, một nền văn hóa nghệ thuật phong phú đa dạng cũng bị tiêu hủy lụi tàn trong tức tưởi uất hận , nền kinh tế công nghiệp phồn thịnh với lượng hàng hóa dồi dào, gạo cá mênh mông của miền Nam bỗng khan hiếm do những chuyến hàng chạy suốt đêm ra Bắc, rừng vàng biển bạc dần dần biến mất bởi lòng tham không đáy của những tay trị nước ngu xuẩn.

Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.

 

Vinh quang gì trong ngày vui đại thắng mà hàng năm Cộng Sản Việt Nam vẫn tổ chức lễ hội ăn mừng và bắt nhà nhà treo cờ kỷ niệm tháng tư đen?

Xin hãy dẹp cái trò “hát trên những xác người”ấy đi, dẹp những tên côn đồ gian ác trong lớp áo công an nhân dân, chính quyền nhân dân mà áp bức đồng bào, dẹp những tên quan tham bòn rút công quỷ, hút máu dân nghèo, những kẻ lãnh đạo mị dân bằng ngôn từ mỹ miều xảo trá mà sau đó lại quì mọp trước thiên triều phương Bắc để dâng tổ quốc non sông… Nếu toàn dân đồng lòng giải tán đảng Cộng Sản hèn với giặc ác với dân thì may ra chúng ta còn khép lại quá khứ mà cùng hướng tới tương lai chống một kẻ thù chung là bọn bành trướng Trung Cộng đang lăm le nuốt trọn đất nước Việt Nam nhỏ bé này.
 

Xin hãy đứng thẳng lên sau bao nhiêu năm cúi đầu chấp nhận cái Độc Lập -Tự Do- Hạnh Phúc”chỉ có trên trang đầu của các giấy tờ chế độ XHCN, bao nhiêu năm sống trong hòa bình mà lòng dân ly tán, quê Mẹ oan khiên.
 

Lẽ nào dân Việt mình tới bây giờ vẫn còn ngủ mê  khiếp nhược “trước những bất công vẫn không biết kêu đòi”để đến ngày nào đó đất nước rơi vào tay kẻ ác, cả một dân tộc bị đọa đày và tên Việt Nam biến mất trên bản đồ thế giới thì mới tỉnh dậy hay sao?

Tháng tư, nỗi đau còn mãi. 

 



 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.