Hôm nay,  

Đình Ông Đô

16/05/202015:38:00(Xem: 5339)

 


 Chợ Cây Da sáng hôm ấy xôn xao hẳn lên, người ta xì xầm bàn tán: “Đêm qua Ông về”, nhiều người có vẻ hả dạ: “Bọn gian thương xảo trá liệu hồn, Ông linh hiển lắm!”. Bà Ba Mập oang oang:

 - Ông Tám Nề uống rượu ăn thịt chó, nửa đêm nằm võng bị Ông đập cho mấy gậy té lăn xuống đất, giờ còn sảng thần, sốt hâm hấp kià. Vợ con ra đình cúng tạ cầu xin. 

 Đêm qua trăng sáng lắm, sáng đến nỗi tỏ cả đường chỉ tay, không gian im ắng lạ thường, tiếng côn trùng vốn nỉ non hàng đêm ấy vậy mà cũng im bặt, sự im lặng đến nghe rõ cả nhịp tim thì thụp. Chừng nửa canh giờ quá khuya thì gió bắt đầu nổi lên ào ào, dân quanh đình nhiều người nghe rõ mồm một tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, sau đó thì tất cả bất chợt im bặt, chỉ còn tiếng vó độc mã gõ lộp cộp ở sân đình. Cả làng biết Ông về, không ai dám ló mặt ra khỏi cữa, ấy vậy lão Cường bạo gan dám hé cữa nhìn ra sân đình. Lão thấy bóng một người vận nhung phục như võ tướng trong tuồng hát, cỡi ngựa bạch, tay cầm côn dài hai thước. Bất chợt con ngựa linh cảm có người nhìn lén, nó khụy hai chân sau xuống, tung hai chân trước lên và hí vang, sau đó thì cả người và ngựa biến mất như một tia sáng xanh lè vụt qua dưới ánh trăng.

 Dân làng Hội Long xưa nay rất sùng bái ngôi đình này, chẳng biết đình dựng tự bao giờ, tên chữ là đình Vân Long nhưng dân làng vẫn quen gọi là đình Ông Đô. Tiếng là thờ thành hoàng bổn cảnh nhưng thực ra thờ đô đốc Long. Người làng cung kính kỵ húy, chỉ kêu là Ông Đô. Hàng năm xuân thu nhị kỳ cúng tế, các bô lão vẫn khấn thầm:


 Xuân thu nhị kỳ

 Chúng con kính lễ

 Cháu con hậu thế

 Ơn đức tổ tiên

 Tiền hiền liệt thống

 Đức ông hiển thánh 

 Giết giặc trừ gian

 Bảo vệ giang san

 Hộ dân hộ quốc

 Sống phò thánh tổ

 Đức độ cao danh

 Thác lưu sử xanh

 Đời đời cúng tế 


 Thời thế thay đổi, lệnh trên bảo bài trừ mê tín dị đoan, buộc mọi người phải đập phá chùa chiền, miếu mạo, đình, dinh… làng chẳng ai dám làm, chỉ có mỗi ông Tám Nề vốn là tay thô tháo xu thời làm mà thôi. Y cùng bọn vô laị trên quận xuống đập phá toang hoang các phù điêu, trụ biểu, tượng, đồ tế khí…Thế rồi y té võng, bệnh sảng thần, nói năng lảm nhảm. Vợ con phải chạy chữa, cúng vái khắp nơi. Làng laị có một người trông nho nhã lắm, ông ta là một sự đối nghịch với hình ảnh lão Tám Nề. Người thanh lịch, học rộng biết nhiều , bởi thế người làng gọi  là Hai Lịch.  Hai Lịch tìm tòi trong sách vở, tra điển cố mới biết được lai lịch đức ông. Năm ấy người làng vẫn âm thầm cúng đình, bọn chức dịch cũng biết nhưng làm lơ. Bọn chúng thấy cái gương của ông Tám Nề nên cũng sợ, có kẻ trong bọn ấy nói bâng quơ:” Cúng gì thì cúng, làm cho khéo, kẻo trên quận quở”. Sau buổi cúng đình, người làng quây quần ăn bánh hỏi cháo lòng và nghe Hai Lịch kể tích đức ông.

 Đức ông người họ Đặng tên Long, vốn là người Bắc Hà di cư vào vùng này lập nghiệp. Nhà họ Đặng vốn có nghề rèn nhưng ông rất khảng khái và khí tiết cao ngất, tánh tình phóng khoáng, thích ngao du sơn thuỷ hơn là lập nghiệp lập danh. Sau một thời gian ổn định cuộc sống,  ông laị quay về phương Bắc, dấu chân ông in khắp mọi vùng, ông thăm thú di tích cổ xưa, leo lên đỉnh Yên Tử, vào chốn thị tứ… không đâu là không đến, có khi lên tận Bắc Hà, Cao Bằng. Một lần về trấn Bắc Qua, ông ngồi uống rượu ở quán lạ trong trấn, chợt một bọn côn đồ hung hãn tràn tới, chúng cướp giật đồ đạc những người đang bán mua ở đấy, chúng giở trò sàm sỡ đàn bà con gái giữa thiên thanh bạch nhật. Bọn lính lệ ngồi ăn uống trong quán vẫn điềm nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Dân chúng bất bình nhưng không dám làm gì. Ông lẳng lặng huơ côn đánh giạt cả bọn côn đồ. Chúng ỷ đông hè nhau vây ông, tiếc thay chúng gặp phải cao thủ trong nghề, chẳng mấy chốc bọn chúng bưu đầu sứt trán cả, liệu thế không xong bèn bỏ chạy. Tên đầu đảng còn quay laị đe nẹt:

 - Liệu hồn mày, chúng ông sẽ quay laị xẻ thịt lột da mày! 

 Dân kẻ chợ hoan hô vang dội, cảm ơn ông rối rít. Bọn lính lệ nãy giờ ngồi im, một tên trong bọn có lẽ là đội trưởng, y đứng dậy chĩa giáo vào mặt ông:

 - Mày là thằng nào? Dám đến đây làm loạn à? 

 Ông khẽ gạt ngọn giáo, nhìn thẳng mắt y, giọng đanh laị, rành rọt từng tiếng:

 - Ơn vua, lộc nước, thuế dân ăn đủ, cớ sao giặc cướp lộng hành laị làm ngơ? chấp pháp mà dung chứa trộm cướp thì tội gì? 

 Hắn ta tái mặt, biết là gặp phải tay cứng cựa bèn hậm hực phẩy tay gọi bọn lính lệ bỏ đi. Trước khi ra khỏi quán, chúng còn vớt vát:

 - Lần này ông bỏ qua, lần sau gặp laị đừng trách ông nhé! 

 Sau khi bọn lính lệ bỏ đi, có một người trông rất tráng kiện và oai phong bước đến bàn ông:

 - Xin được mời tráng sĩ bát rượu này!

 Ông nhìn người kia giây lát rồi bưng lấy uống cạn, người kia laị hỏi:

 - Dám hỏi tráng sĩ danh tánh là chi? 

 Ông tự rót một bát nữa, uống cạn rồi thủng thẳng:

  - Thưa huynh, tôi vốn người Bắc Hà nhưng vì ngao ngán triều chính bết bát, quan laị nhũng lạm hà hiếp dân…Tôi đã đưa cả gia đình vào xứ đàng trong sinh sống. Chuyến này tôi về đây là thăm thú non sông, chuyện gặp phải côn đồ mà bất bình ra tay cũng là bất đắc dĩ. Thế còn huynh thì sao?

 Vị tráng sĩ kia cũng từ tốn thưa:

 - Thưa huynh, tôi vốn người Sơn Hạ, đậu tạo sĩ năm dần, đời Cảnh Hưng mười ba, làm quan được tám tháng thì bỏ. Tôi chịu không nổi cảnh chúa Trịnh lộng quyền, vua Lê nhu nhược, triều đình hủ baị, quan laị toàn một lũ sâu dân mọt nước. Là ngôi cao, lộc trọng lẽ ra phải hộ dân hộ quốc, đằng này chúng xử dụng tôi và quân binh như một loaị kiêu binh chỉ để phục vụ riêng cho chúng mà thôi. Vì vậy tôi cởi nhung phục trả triều đình, tháng ngày rong ruổi khắp sơn hà.
 

 Vị tráng sĩ dừng lời, ông rót bát rượu đầy uống cạn rồi tiếp:

 -  Cả nhà tôi vào đất mới dung thân, Đàng trong đất rộng người thưa, sản vật phong nhiêu, đất đai trù phú… rất dễ sống, tiếc là mấy năm nay bị nạn quyền thần Phúc Loan.  Đất Tây Sơn có người hào kiệt đã dựng cờ khởi nghĩa. Tôi với y thờ chung sư phụ, y là tay anh hùng, nhìn xa trông rộng, tánh tình hào sảng, văn võ đều hơn tôi rất nhiều, tài thao lược của y thiên hạ này không có người thứ hai. Y và hai người anh em lập căn cứ trên thượng đạo, hào kiệt tụ về nhiều lắm. Tôi thuận lời mời của y, giúp rèn binh khí cho nghĩa quân. Y cầm quân đánh đâu thắng đó, chặn quân Trịnh từ Bắc Hà vào, đuổi quân Nguyễn ra tận bể Xiêm La. Lần đầu y đem quân ra Bắc Hà, dẹp yên cả Trịnh, Lê và bao nhiêu dư đảng khác dễ như thò tay vào túi lấy kẹo. Cái đám kiêu binh loạn tướng, hủ baị ấy đâu phải là đối thủ của con mãnh sư!  Lòng tôi còn tưởng nhớ Bắc Hà nên không tham gia với y, duy có giúp rèn binh khí thôi! Tôi e một ngày kia y kéo quân ra Bắc Hà lần nữa thì mất cả non sông. Bởi vậy tôi từ tạ ra đi, Bắc Hà lừng lẫy lắm, nhưng hơn hai trăm năm baị hoại bởi vua chúa, giờ như con bệnh dở sống dở chết, nho sĩ hủ lậu, hào kiệt không còn, bọn giá áo túi cơm nhan nhản trong triều ngoài nội, bọn quan laị kết cấu côn đồ rông rỡ, ngông cuồng. Bắc Hà như mảnh đất vô thiên vô pháp. 

 Nói đến đây ông ngồi trầm ngâm, hai tay bưng bát rượu không xoay xoay. Người kia laị hỏi:

 - Thế những ngày sắp tới huynh tính sao?

 Ông thật thà:

 - Ta cũng chưa biết ra sao, thời thế thế naỳ thì tính được gì, như nùi canh hẹ! 

 Tháng chạp thăng Long còn lạnh lắm nhưng không khí xuân đã bắt đầu rộn ràng, các phường thủ công làm đồ tết cả ngày đêm, người kẻ chợ lo mua sắm tấp nập. Chợt một sáng có tin dữ từ Lạng Sơn cấp báo về: Giặc Mãn Thanh đã tràn qua biên giới, nội trong vài ngày chúng sẽ kéo vào Thăng Long! Dân chúng kinh hoàng, mọi người nháo nhác như ong vỡ tổ. Riêng bọn quan laị theo phò Duy Kỳ thì hí hửng ra mặt, chúng lập tức trả thù những người trước kia theo Tây Sơn, cướp bóc, hãm hiếp loạn cả kinh kỳ. Ông thấy nguy cấp bèn rủ cả người bạn mới về Nam. Đến Tam Điệp thì đúng lúc Quang Trung hội quân ở đấy, nghe tin ông đến, chúa công bèn cho người mời:

 - Ông biết tin gì rồi chứ? Lúc trước ông bỏ đi vì sợ tôi cướp thiên hạ của vua Lê. thật tình tôi ra Bắc Hà dẹp loạn, định yên thiên hạ, lập Duy Kỳ làm vua, trả Bắc Hà cho y… tiếc rằng y quá nhu nhược bất tài, laị đớn hèn để loạn tướng phá nát triều chính và giang sơn, sau đó rước giặc Tàu về giày mả tổ. Nay Mãn Thanh đã tràn sang, ông tính sao? kẻ hào kiệt nỡ ngồi nhìn quốc diệt dân vong? 

 Ông quỳ tâu:

 - Bẩm chúa công, ngài đã thấu tận tâm can của tôi, tôi xin tạ tội và quyết theo ngài đi dẹp giặc! Bắc Hà hai trăm năm nay vô thiên vô pháp. Bắc triều muôn đời nay muốn cướp mảnh đất Đaị Việt này, đã bao lần kéo quân sang nhưng trước sau cũng đaị baị. Nay mượn cớ tràn sang, thế nào cũng theo vết xe đổ mà thôi! Chúa công là người xuất chúng trong thiên hạ, điều binh kkhiển tướng như thần, dưới trướng toàn những tay anh hùng hào kiệt, quân binh khí thế ngất trời, chính nghĩa quang minh như thế naỳ thì giặc Bắc phương ắt sẽ sớm baị vong!

 Quang Trung nói:

 - Ngay từ lúc còn học chung với giáo Hiến, ông đã tỏ rõ là tay xuất sắc hơn người, chí khí cao, tánh tình khảng khái. Nay ông chịu giúp nước ấy là phước cho dân! 

 Nói xong cho người mang một bộ nhung phục, một thanh kiếm và cờ tiết ra. Đích thân Quang Trung trao tận tay ông

- Tôi thân chinh chỉ huy trung quân, giao cho ông thống lĩnh hữu quân. Các cánh quân kia do các đô đốc Lộc, Tuyết, Diệu, Xuân, Dũng… chỉ huy. Chuyến này sẽ dẹp giặc nhanh thôi. Bọn chúng kiêu căng ngạo mạn vì vào Thăng Long dễ dàng như vậy. Chúng chỉ lo vơ vét, ăn chơi và hưởng thụ, quân lệnh trễ nãi. Tôi thề với các ông, quân ta sẽ vaò Thăng Long ngày mùng bảy tết. 

 Thế rồi mới mùng năm Quang Trung đã dẫn đaị quân vào Thăng Long. Trăm họ vui mừng hết cỡ, bày hương án tế sống Quang Trung, đem hết lương thực ra khao quân. Thăng Long ngàn năm chưa bao giờ hào hùng và rạng rỡ như thế cả. Quang Trung liền phong thưởng cho các tướng và những người có công. Ông được gia phong làm đaị đô đốc, chẳng bao lâu thì ông dâng sớ  xin về quê. Quang Trung triệu ông đến:

 - Tôi biết ông là người cao nhã, tánh tình phóng khoáng, áo xiêm ràng buộc không phải là  ông, quan trường laị càng không phải là chí ông . Quốc gia tạm yên, thiên hạ đã định nhưng ngặt còn dư đảng hậu Lê đang âm mưu quấy phá, cát cứ. Tôi mong ông nán laị một thời gian, ra tay lần nữa dẹp loạn. Sở dĩ tôi tin cậy ở ông vì ông vốn là người Bắc Hà, rành địa chí, biết phong tục, rõ lòng người. Nay lần nữa nhờ ông! 

 Thế là ông laị ngược lên Đà Giang, Lạng Sơn, chẳng mấy chốc dẹp tan dư đảng của Duy Kỳ. Ông chưa kịp về Nam thì nghe hung tin Quang Trung băng hà. Ông khóc ba ngày đêm, sau đó lên chùa lập đàn cầu nguyện cho chúa công. Đàn hoàn mãn thì ông cũng biệt tích luôn, kể từ đó không ai biết ông đi về đâu nữa cả! 

 Gia Long năm thứ nhất, y làm lễ hiến phù, tận pháp trả thù những người liên can với nhà Tây Sơn. Quan chấp pháp đọc tên ông, xử khiếm diện, chờ khi bắt được sẽ gia hình. Gia Long tung tay chân bộ hạ ráo riết truy tìm ông nhưng vẫn bặt âm vô tín. Triều đình treo cao giải thưởng cho ai bắt hay giết được ông nhưng cũng chẳng có ai làm được. Giang hồ hành hiệp thì vẫn đồn đaị khi thì thấy ông ở mạn Đà Giang, kẻ thì bảo sang Bồn Man, thậm chí có người còn cả quyết ông đã sang Xiêm. Có lần có một người lạ mặt nói bâng quơ:” Nơi nguy hiểm nhất laị là nơi an toàn, ông đang ẩn danh sống trên đất chúa công khởi nghiệp” dù bao lời đồn đaị nhưng tuyệt nhiên chẳng ai nói với tai mắt của triều đình cả.

 Mùa xuân năm tý, lão võ sư làng Long Vân qua đời, khi khâm liệm người làng phát giác một thẻ kim bài có khắc hàng chữ: Đaị đô đốc Đặng Văn Long và dấu ấn chìm Quang Trung đệ nhất niên. Người làng lập tức bỏ vào áo quan và đóng nắp luôn, sau bảy tuần thất,  các bô lão trong làng làm sớ xin lập đình để thờ tiền hiền nhưng hàng năm vẫn đọc văn tế xong thì thầm khấn vía Ông. 


TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 03/2020

 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.