Hôm nay,  

Kiềng Ba Chân

01/06/202016:43:00(Xem: 5245)

 



 Tiếng khánh réo rắt ngân dài và lan toả trong không gian như những vòng sóng tròn, càng loang xa vòng tròn càng lớn, bao trùm cả đất trời. Âm thanh bay lên tận trời xanh, xuyên thấu vào lòng đất như mũi dùi chọc thủng cả địa ngục A Tỳ. Bọn quỷ đói rùng rùng kéo về hướng phát ra tiếng khánh, chúng đông hơn quân Nguyên, hình thù quái dị, trông gớm ghiếc vô cùng. Cứ thường lệ mỗi buổi chiều, chúng ngóng đợi tiếng khánh để được ăn bữa chiều.
 

 Chùa Tâm Tịnh rất nhỏ bé và đơn sơ, vốn là ngôi nhà cũ cải gia vi tự,  chánh điện nhỏ, tôn trí pho tượng Thích Ca ở chính vị và sau lưng là bộ Tây Phương tam thánh. Vật có giá trị nhất có lẽ là quả đaị hồng chung, quả chuông to bự sư vừa mới đúc năm rồi, màu đồng còn sáng choang chưa lên màu thời gian. Tuy là chuông mới nhưng âm thanh laị có nội lực không khác những quả chuông vài trăm tuổi, tiếng chuông đã sớm trở thành một điều không thể thiếu của cư dân khắp các tổng quanh chùa. 

 Tiếng khánh vừa dứt thì bọn quỷ đói đã đầy sân, chúng ồn ào, nhốn nháo trông lộn xộn quá. Con qủy đầu đàn tên là Hoả Diện Bạch Trảo Nha gằn giọng:

 - Chúng mày im lặng và trật tự, ăn uống chẳng mất phần! đứa nào quậy phá thì Hộ Pháp đập cho một chùy thì ba má chúng mày cũng nhận không ra. 

 Một con quỷ nữ bước laị gần nó, hình dong cũng rất dễ sợ không khác gì bọn quỷ kia cả nhưng nếu tinh ý thì sẽ thấy nó là một con quỷ đẹp nhất trong bọn, nét son sắc má đào của nó ẩn dưới lốt quỷ. Nó cất giọng ỏn ẻn:

 - Đaị vương, em đói quá, em phải ăn trước! 

 Hoả Diện Bạch Trảo Nha gật đầu:

 - Dĩ nhiên, em phải trên trước bọn chúng! 

 Những con quỷ đứng gần nghe thế bèn lùi ra xa hơn một tí, có đứa không hài lòng nhưng không dám ho he. Ni sư Minh Lý vẩy mấy muổng cháo, lập tức cháo biến hoá  đầy cả hư không. Bầy quỷ ăn no nê, không cần phải tranh làm gì, thế mà chúng vẫn tranh. Con quỷ chúa phải canh chừng la hét kẻo không chúng làm loạn lên. Buổi thí thực xẩm tối chấm dứt, bọn quỷ ăn xong biến mất nhanh như lúc chúng kéo đến.

 Tối cuối tuần, ni sư Minh Lý cùng những đệ tử và mấy Phật tử tại gia ngồi trì chú trong chánh điện. Tiếng trì chú rì rầm, tiếng mõ lốc cốc, thỉnh thoảng tiếng chuông boong vang lên, đánh thức sự hôn trầm của vài người, vực dậy cái âm bình bình và không khí trầm lắng. tiếng chuông như đập vỡ cái vỏ ảo giác vô minh trong phút giây hiện tại, laị như đoá hoa sen vượt lên khỏi đầm bùn mà nở hoa. Trong đám ngạ quỷ ấy, có vài đứa ăn cháo xong chẳng chịu đi, mà nán laị nghe chú, nghe kinh. Hoả Diện Bạch Trảo Nha và con quỷ cái kia thường ở laị cho xong khoá lễ đêm. Con nữ quỷ ấy tên Mỹ Diện Tế Yêu, nó thì thầm với qủy chúa:

 - Mấy cô điệu nhỏ quá, sao laị đi tu chi cho cực? 

 Quỷ chúa trả lời rằng:

 - Với những cô đã đủ tuổi trưởng thành thì đó là tâm nguyện của họ, còn những cô quá bé có thể là những đứa trẻ mồi côi do chùa nuôi, hoặc con nhà quá nghèo, nuôi hổng nổi nên đem lên gởi cho chùa. 

 Nữ quỷ laị hỏi:

 - Vậy khi lớn lên, họ không muốn tu nữa mà muốn về nhà thì có được không?

 - Dĩ nhiên! đạo Phật rất tự do, dân chủ. Ai cũng có thể tu và ai cũng có thể rời bỏ, đạo Phật không có trừng phạt hay nguyền rủa như những tôn giáo khác. 

 Mỹ Diện Tế Yêu laị hỏi:

 - Vậy bọn người họ tu chi vậy?

 - Để thoát kkhổ, để vượt qua sinh tử, còn nếu như thấp hơn thì để kiếp sau tái sanh vào một hoàn cảnh tốt đẹp hơn, thân tướng xinh đẹp hơn... 

 - Thế những người vốn giàu có, xinh đẹp, thông minh rồi thì còn tu để làm gì? 

 - Nếu kiếp hiện tại là thế nhưng chắc gì kiếp sau còn được như vậy, bởi thế mới tu để duy trì hoặc là thăng tiến hơn.

 - Bố thí để kiếp sau giàu có, học kinh để kiếp sau thông minh, tu tâm tu tướng để kiếp sau thân tướng xinh đẹp.  Nhưng khi giàu sang xinh đẹp rồi thì sanh hưởng thụ, gây nghiệp xấu thế là laị đọa, há chẳng phải luẩn quẩn vô ích sao?

 Quỷ chúa ngần ngừ chưa đáp thì lúc ấy có vị thiên vương hiệu là Đa Văn hiện thân tướng rực rỡ trước mặt chúng và nói rằng:

 - Tu để để đời sau giàu sang, xinh đẹp, thông minh… là phương tiện mà nói, đấy không phải mục đích của nhà Phật. Việc dùng phương tiện để dẫn dụ cũng giống như bọc đường cho viên thuốc dễ uống. Con đường tu tập vất vả gian nan và dài lâu, không dễ gì đạt được thánh quả, nhất là trong đời mạt pháp này. Không đạt thánh quả thì sinh tử luân hồi vẫn còn, bởi vậy tu để đời sau tốt đẹp hơn cũng quan trọng lắm, giữ được thân người đã khó, được thân người mà đầy đủ phước báo thì còn khó hơn khó. Năm xưa Thế Tôn từng dạy:” Được thân người như đất dính ở móng tay, mất thân người như đất ở đaị địa”. Vì vậy tu phước tu huệ để đời sau có thân tướng xinh đẹp, thông minh, giàu sang cũng là quý lắm. Đời sau đủ phước báo laị tạo nghiệp thì đời kế tiếp bị đọa, nhà Phật gọi là tam thế oan. Đạo Phật là đạo xuất thế, không chủ trương mưu cầu phước báo nhân thiên mà mục đích chính là trí huệ để liễu sanh thoát tử. 

 Vị thiên vương dứt lời thì tiếng chuông hậu kết khoá lễ cũng vang lên. Vị thiên vương ấy cùng với quỷ chúa Hoả Diện Bạch Trảo Nha và nữ quỷ Mỹ Diện Tế Yêu đồng bái tạ Phật xong rồi biến mất. Ni sư Minh Lý xuống trai đường cùng các sư muội và mấy đệ tử taị gia ăn nhẹ bữa tối. Cô điệu Diệu Liên hỏi:

 - Bạch sư cô, giới luật bảo ngày ăn một bữa mà chùa mình ngày ăn ba bữa, vậy có phải là phạm giới chăng? 

 Sư cô Minh Lý nhẹ nhàng cười:

 - Giờ con ăn ngày một bữa chịu nổi không? tất nhiên là không rồi, giới luật là thế, nhưng vào sâu đời mạt pháp căn cơ con người càng xuống thấp, trí huệ kém, đạo hạnh yếu, đã thế những bậc tòng lâm thạch trụ bị đồng đạo cô lập, quyền lực thế tục bao vây phong toả… Bọn chúng mình chỉ là những kẻ giữ chùa mà thôi, không mong gì chứng đắc giải thoát trong kiếp này. Duy có việc ráng tu để đời đời được gặp Phật pháp, gặp chánh pháp là có hy vọng lớn nhất. Tuy kiếp này không chứng đắc liễu sanh thoát tử nhưng chúng ta giữ gìn ngọn đèn chánh pháp, giữ gìn mạng mạch Phật pháp tại thế gian này. Chúng ta là gạch nối tiếp nhận từ lịch đaị tổ sư và truyền laị cho thế hệ sau. Việc duy trì Phật pháp ở thế gian không chỉ lợi ích cho người mà còn lợi ích cho chư thiên thần và vô số chúng sanh mà mắt mình không thấy được. Chúng ta tuy là phàm tăng, phàm ni nhưng vẫn là con Phật, là hạt giống Phật pháp ngày đêm thực hành sứ mạng Như Lai phó chúc.
 

 Cô Phật tử Quảng Hương là một Phật tử siêng năng và thành tâm, luôn hộ trì chùa và những công việc lợi ích cho đạo cho đời. Cô tâm sự:

 - Bạch ni sư, đời bây giờ có nhiều vị lạm dụng của cải tam bảo, tiền bạc của đàn na tín thí, mua đất, tích trữ tài sản riêng, du hí khắp nơi, thậm chí làm những việc bại hoại xấu xa làm cho hàng Phật tử chúng con rất hoang mang, nhiều người bỏ chùa, xa rời đạo, mất niềm tin ở qúy thầy. Có nhiều vị lên ti vi công khai xu nịnh quyền thế, phát biểu linh tinh, thế tục hoá chuyện đạo…Nhiều Phật tử bất bình, dân chúng mỉa mai, các tín đồ đạo khác lợi dụng cơ hội bài bác đạo Phật.
 

 Ni sư Minh Lý lắng nghe và im lặng hồi lâu.

 - Đúng thế, truyền thông và mạng xã hội đưa tin khá nhiều, đây là điều đáng tiếc! Ni tôi giữ Bát kỉnh pháp nên không thể nói gì, chỉ mong các Phật tử giữ gìn chánh tín, đừng để những việc sai trái của các vị ấy làm suy giảm đạo tâm của mình. Việc ai sai người ấy chịu, tuy nhiên chúng ta cũng dính lây vì cùng cộng nghiệp. Đạo Phật cũng như mọi pháp của thế gian, không thể tránh khỏi việc thăng trầm, không thể nằm ngoài quy luật thành- trụ- hoaị- không. Kiếp người ngắn ngủi, không kịp thấy được thời gian thịnh suy của đạo pháp,  ni tôi mong mỏi các Phật tử giữ vững niềm tin vào chân lý mà Thế Tôn đã dạy, hãy tu học Phật pháp bằng lý trí, đừng dụng cảm tình, nhiều khi cúng dường không đúng cũng là cái duyên tạo nghiệp xấu vậy!  Đêm cũng khuya, các Phật tử về nghỉ, ni và các sư muội cũng cần nghỉ một tí để sáng sớm dậy công phu.

 Quá nửa đêm, ni sư mơ màng thấy hai vị hộ pháp và thổ địa đến. Thổ địa thưa:

 - Bạch ni sư, đất linh taị đức! thổ địa tôi coi ngạch đất đai, tất nhiên có cuộc đất của chùa Tâm Tịnh này. Tôi luôn hộ trì những nơi giữ gìn Phật pháp và những vị có giới đức, tinh tấn tu học . Cuộc đất ở đây tuy không vượng nhưng dưới sự hộ trì của thổ địa tôi thì không có một việc xấu nào có thể vào được phạm vi kiết giới của chùa. Có những nơi cuộc đất tốt nhưng vì người ở đấy giải đãi, phạm giới, mượn chuyện Phật làm việc ma thì tôi nhất định không ngó ngàng gì đến. Chùa Tâm Tịnh tuy nhỏ và tuổi đời chưa nhiều nhưng tôi hết sức hộ trì.

 Thổ địa thưa gởi xong thì hộ pháp nói:

 - Tôi vừa đến đây, chùa tuy nhỏ, Phật tử còn thưa thớt, cuộc đất không hẳn tốt nhưng đôi khi ấy laị là cái hay. Ni sư chắc cũng biết câu:” Duyên đời thịnh thì duyên đạo suy và ngược laị”. Hộ pháp tôi không câu nệ hình thức chùa to tượng lớn, không quan tâm đệ tử đông, cúng dường nhiều… hễ ai tinh tấn tu học, giữ gìn giới đức, không xu phụ quyền thế thì tôi tận tâm hộ vệ. Cứ mỗi chiều đến giờ thí thực, bọn quỷ đói kéo về rất đông, trong số ấy có không ích đứa phá phách và cũng có nhiều đứa mến mộ Phật pháp. Tôi nhiếp phục những kẻ ngỗ nghịch và hộ trì cho kẻ mộ đạo kia. Sư cô cũng đã cảm hoá không ít kẻ trong bọn chúng bởi đạo hạnh và giới đức. Người đời không biết, không thấy nhưng trời đất quỷ thần chẳng có lầm bao giờ. 

 Sáng hôm sau sư cô nhận được cuộc điện của bà chủ tịch cộng đồng trong thị trấn, bà ấy nài nỉ:

 - Thưa ni sư, chúng tôi mời ni sư đến dự và cắt băng khánh thành cho buổi lễ:” Xúc tiến kinh doanh, thương maị và du lịch” tại thương xá Tân Thịnh Đạt. Trong buổi lễ này chúng tôi sẽ giới thiệu ni sư và gây quỹ cho chùa của ni sư.
 

 Ni sư Minh Lý từ tốn:

 - Xin cảm ơn tình cảm của bà chủ tịch cộng đồng, tôi chúc cho buổi lễ thành công tốt đẹp và mọi việc thịnh đạt như cái tên của thương xá. Tôi không thể tham dự buổi lễ này và cũng xin đừng lạc quyên gì cho chùa Tâm Tịnh, mong bà chủ tịch thông cảm cho.

 Bà chủ tịch cộng đồng vẫn nài nỉ mấy bận nữa và hỏi lý do tại sao thì ni sư bảo:

 - Chùa Tâm Tịnh đủ vật thực để sống và tu nên không cần lạc quyên, người xuất gia không thể tham gia vào những việc của thế gian.
 

 Mấy cô điệu ngồi nghe ni sư Minh Lý từ chối, lòng đầy thắc mắc. Cô điệu Minh Phước hỏi:

 - Bạch ni sư, người ta tạo cơ hội gây quỹ cho chùa, mình sẽ góp dần để xây laị chùa đúc tượng lớn, sẽ có nhiều người biết đến danh tiếng của chùa, các mối quan hệ xã hội sẽ rộng mở hơn… sao ni sư từ chối? 

 Ni sư Minh Lý nhớ lời của Thổ Địa:” Duyên đời thịnh thì duyên đạo suy” nên cười mỉn:

 - Chùa mình đầy đủ vật thực để sống, tuy nhỏ và cũ nhưng không sao cả, xây chùa to tượng lớn thì cũng đẹp nhưng không quan trọng, quan trọng là ở chỗ tinh tấn tu học, hành trì giới luật. Có trí huệ mới có định, có trí huệ mới giải thoát. Mình đi tu là để buông bỏ chứ không phải tích luỹ . Ngày xưa Thế Tôn bỏ cả của cải, địa vị, danh vọng… mà thế gian này ước ao, nay mình đi cầu một tí danh lợi ấy để làm gì? vừa vô nghĩa vừa uổng cho đường tu của mình. Ni tôi đã thấy nhiều ngôi chùa sau khi xây to lớn xong thì bao nhiêu chuyện xảy ra: điều hành, chức danh, lo tiền chi trả, lo giao tế xã hội, việc thế gian xen vào chùa, hoạt động thế tục lấn át việc tu…và nguy hiểm hơn là những âm mưu chính trị hoá việc chùa. Duyên đời cực thịnh thì duyên đạo suy trầm trọng, thật tình mà nói thì chùa to tượng lớn chỉ thoã mãn thị hiếu khách du lịch, người vãn cảnh chứ chẳng có ích chi cho việc tịnh tu, tấn tu cả! 

 Mấy cô điệu lí nhí cảm ơn ni sư khai thị, ni sư laị nói:

 - Chúng mình ở đây đủ vật thực để sống, đủ hương hoa để cúng dường , đi theo con đường Thế Tôn đã mở… vậy là có phước báo lớn lắm rồi. Các con giữ giới mình đã thọ, tất nhiên cũng phải theo nội quy của bổn tự, nếu các con cảm thấy không thõa mãn thì các con có thể tìm nơi thích hợp hơn với duyên mình. Ni sư không cấm cản các con, nghe thế cả bọn đứng dậy đảnh lễ ni sư và đồng thưa:

 - Chúng con nguyện tu học và noi theo gương ni sư. 

 Ni sư dạy:

 - Chúng mình là con nhà Phật, cách báo ân Phật chân thật nhất, hiệu quả nhất là giữ gìn giới đức, tinh tấn tu học, hiểu rõ nghĩa lý ý thú kinh điển và lời Phật dạy. Chúng mình phải sống sao cho xứng đáng với ba chữ: “ Chúng Trung Tôn”. Nhà Phật có câu:” Sa môn bất bái vương gia”, sa môn là người tu đạo không kể là nam hay nữ, không xu phụ quyền thế, không theo gian nhân ác đảng, không phò thế tục… tuy xuất gia nhưng sa môn cũng là con dân của một nước, chúng mình không thể mũ ni che tai làm ngơ trước thảm cảnh dân oan nước loạn. Người tu đạo ngoài tâm đaị bi còn phải có trí huệ và chút vô uý nữa. Có từ bi mà thiếu huệ và vô uý thì không làm được gì, có trí huệ mà thiếu từ bi và vô uý thì cũng như không, có vô úy mà không có trí huệ và từ bi thì việc sẽ sai vạy…Bởi vậy từ bi, trí huệ và vô úy như cái kiềng ba chân, hễ thiếư một là hỏng, phải có ba thì mới xứng là “ Chúng Trung Tôn”.

 Các tiểu ni và tiểu điệu cảm thấy khoan khoái với lời dạy của ni sư, làn sóng giao thoa của những tâm hồn đồng điệu làm cho ai nấy mặt mày tươi tắn như hoa, rạng rỡ như toả quang và hoan hỷ. 

 Buổi sáng vườn chùa tươi mát trong lành, tiếng chim rít rít rộn ràng, hoa nở hương bay theo làn gió. Các tiểu ni và tiểu điệu vui vẻ đi làm phần công việc của mình.


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Georgia, 05312020

 

 

 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.