Hôm nay,  

Đường Về Việt Bắc

17/06/202009:18:00(Xem: 4358)

(Tưởng niệm Ngày Tang Yên Bái 17 tháng 6 năm 1930. Kính dâng nén tâm hương, tri ân bao anh hùng liệt nữ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã vị quốc vong thân)

 

            Hồng Linh đã về tới quê hương trong chuyến đi hoàn toàn bất ngờ. Một chương trình trao đổi kỹ thuật đặc biệt về tin học với các nước Châu Á, khi cô đang ở trong lãnh vực này. Chặng đầu tiên sẽ dừng ở miền Bắc, Việt Nam trong hai tuần lễ.

            Hai tuần lễ ở Hà Nội, ngoài những buổi hội thảo, Linh lang thang tìm thăm những địa danh mà mẹ cô thường nhắc. Hà Nội là nơi mẹ cô chào đời, nhưng khi mẹ mới mười tuổi thì ông bà ngoại đã phải dắt mẹ, cùng các cậu, các dì của cô vào miền Nam để lánh nạn Cộng Sản.

Mới mười tuổi thôi, nhưng mẹ cô đã nhớ nhung, đã ôm ấp, đã cưu mang gìn giữ biết bao nhiêu là hình ảnh, là kỷ niệm thân thương về quê ngoại, với làng Đồng Du thuộc tỉnh Hà Nam và quê nội, với thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.

            Là con gái đầu lòng, ngoài tình mẹ con, Linh còn được mẹ coi như bạn để mẹ kể những câu chuyện bi hùng về thời kháng chiến xa xưa, những anh hùng liệt nữ hữu danh cũng như vô danh trong chiều dài lịch sử khi dân tộc Việt Nam bị ngoại xâm đô hộ. Những con sông, những vách núi, tưởng như cảnh vật bình thường nhưng qua lời mẹ kể, Linh cảm nhận sâu xa có hồn thiêng sông núi trên từng bụi cỏ, lùm cây.

Trưởng thành ở xứ người, Linh thật hạnh phúc vì đã được là con của mẹ vì mẹ cô, vừa là mẹ, vừa là bạn để không chỉ dậy dỗ mà còn chia sẻ những rung động tâm linh về cội nguồn Đất Tổ.   

            Linh đã về được quê nội, quê ngoại, thâu vào ống kính những hình ảnh nghèo nàn, dân tình thờ ơ, không còn như lời mẹ thường kể về quê xưa.

Linh chấp nhận những thay đổi này như điều tất nhiên của hoàn cảnh xã hội, nhưng cảm xúc khi chậm bước trên đường làng thì tràn đầy thân thương, tưởng như cô đã từng được hạt lúa nơi đây nuôi lớn.

            Hôm nay, cô sẽ thực hiện điều thứ ba, như đã hứa với mẹ, là sẽ tìm cách tới địa danh Yên Bái, nơi gần một thế kỷ trước, đảng trưởng Nguyễn Thái Học của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã cùng mười hai đồng chí hiên ngang bước lên đoạn đầu đài, vị quốc vong thân dưới lưỡi đao của thực dân Pháp.


Bao Ngoc
Trang sử bi thảm của một dân tộc bị ngoại bang đô hộ đã ghi đậm nét hào hùng, lẫm liệt khi cuộc nổi dậy giành lại tự do, độc lập bất thành. Một đảng cách mạng mà thành phần chủ yếu là những sinh viên, học sinh với sự tiếp sức của những nông dân hiền lành, chất phác, nhưng lòng yêu nước đã khiến gươm đao, súng đạn của ngoại xâm rúng động. Sự lo sợ khiến chúng phải dùng hạ sách là bủa vây, lùng bắt những người nổi dậy, đưa lên máy chém!

Khi nghe Linh muốn đến thăm Yên Bái thì một sinh viên địa phương có tham dự hội thảo, đã tình nguyện hướng dẫn. Vũ chia sẻ rằng, anh tuy lớn lên ở Hà Nội nhưng nơi chào đời là Việt Trì, đường dẫn tới Yên Bái. Muốn tới Việt Trì phải qua phà, nơi con sông nổi tiếng vì có loại cá rất ngon và hiếm, xưa chỉ để dâng vua. Đó là cá anh-vũ. Rồi anh bẽn lẽn nói thêm rằng, đó cũng chính là tên anh mà cha mẹ đã chọn, khi làm giấy khai sinh. 

Hai người bạn trẻ ra bến xe, đi trên quốc lộ 3, về hướng tây bắc.

Dọc đường, thỉnh thoảng Linh bấm máy thâu hình và Vũ dẫn giải vào phần ghi âm: “Đây là ngã ba Phủ Lỗ, thuộc tỉnh Phúc Yên. Chúng tôi vừa rẽ vào quốc lộ 2, theo hướng Việt Trì. Chúng tôi sẽ qua phà để tới Việt Trì, rồi theo hướng Phú Thọ, chúng tôi sẽ tới một con sông lừng danh thời kháng chiến …”

Linh ngắt lời bạn, reo lên:

-         Có phải sông Lô không?

Vũ ngạc nhiên:

- Sao Linh biết?

- À, Linh đoán thôi, vì Linh nghe mẹ nói là thời bé, mẹ thường được ông ngoại ru ngủ bằng bài hát Trường Ca Sông Lô mà nhạc sỹ Văn Cao đã sáng tác rất xuất thần, làm nức lòng bao người trẻ tuổi, bỏ bút nghiên, lên đường kháng chiến chống ngoại xâm.

Vũ nhìn Linh, như chờ đợi.

Và Linh khẽ cất tiếng hát: “Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau, núi rừng thâm u. Thu ru, bến sóng vàng từng nhà mờ biếc, chìm một mầu khói thu. Sông Lô, sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang. Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn mầu nước sông Lô xưa …”

            Thật không ngờ cô đang được là người lữ khách, qua bến nắng hồng, nhìn mầu nước xưa … Còn biết bao người mong ước được trở về quê cha đất tổ mà không thể!

            Xe dừng ở trạm Phú Thọ, đón thêm khách. Linh bỗng cảm thấy hồi hộp quá! Cô nghĩ, chắc sắp tới Yên Bái rồi chăng?

Chuyến đi này, cô mang theo cả tấm lòng gửi gấm của mẹ. Qua những cuốn sách mẹ đã viết về những cuộc nổi dậy thời thập niên ba mươi của bao con dân Việt Nam yêu nước đứng lên kháng chiến chống ngoại xâm thì cô biết một điều, đối với mẹ, Yên Bái là Linh Địa, là nơi tiêu biểu cho lòng yêu nước, sự hy sinh, chí khí can trường dũng cảm.

Mẹ chưa tới được Yên Bái nhưng từ những sự kiện lịch sử, thì từng câu chuyện, từng bài thơ, từng trang sách, mẹ đã vô tình truyền sang cô một tình yêu quê hương sâu đậm mà nhờ chuyến đi này cô mới cảm nhận được rõ hơn.

Máy thâu trên tay Linh vẫn chầm chậm thu vào cảnh trí bên ngoài, và lời dẫn giải của Vũ vẫn đều đều ghi âm: “Chúng tôi đang trên đường từ Đoan Hùng vào thị xã Yên Bái. Xa xa phía trước là Xóm Đầm Sen, nơi có một nghĩa trang là nghĩa trang Yên Bái. Pháp trường Yên Bái thời xưa ở gần Đầm Sen, nơi có một hồ rộng …”

            Linh như không nghe Vũ nói gì nữa. Cô hấp tấp bảo:

            -Xuống đây đi! Chúng ta xuống đây đi!

            -Chưa tới thị xã Yên Bái mà.

            -Linh muốn đi bộ tới Xóm Đầm Sen.

            Tuy mang tên Xóm Đầm Sen nhưng nơi đây chẳng thấy bông sen nào, chỉ những thửa đất khô cằn, nhấp nhô từng lùm cỏ dại. Linh lại đột ngột hỏi:

            -Có sân vận động nào quanh đây không?

            -Sân vận động Bãi Lăng ngay kia kìa.

            -Đi mau! Chúng ta tới đó!

            Vũ chạy theo Linh, ngạc nhiên vì sự hối hả và xúc động của bạn khi hỏi về những nơi chốn mà Vũ nghĩ là có chi để tham quan đâu!

            Quả thật, sân vận động Bãi Lăng chỉ là một khoảng đất trống, mỗi đầu dựng một khung thành và xung quanh có những hàng ghế gỗ thô sơ. Nhưng sau này, chi tiết lịch sử được ghi thêm thì đây chính là pháp trường Yên Bái năm xưa, quanh đó có những dẫy nhà thấp, dùng làm trại binh Khố Xanh.   

Linh nghe lòng mình thầm nấc lên “Mẹ ơi, đây rồi! Mẹ ơi, con đang đứng trên phần đất quê hương, nơi gần một thế kỷ trước là pháp trường Yên Bái, nơi mà 5 giờ 37 phút, sáng sớm ngày 17 tháng 6 năm 1930, bọn ngoại xâm đã đưa mười ba vị anh hùng của Việt Nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đài. Những bước chân hiên ngang, những tiếng hô Việt Nam Muôn Năm bị đứt quãng khi đầu lìa khỏi cổ nhưng âm thanh sấm sét đó đã đi vào từng trái tim Việt Nam, máu loang trên đất mẹ đã tô đậm nét son trên trang sử một dân tộc bất khuất, kiên cường. Từng bước chân tiến tới máy chém đã nở từng đóa hoa bất diệt.

            Người thứ nhất: Bùi Tử Toàn

            Người thứ hai: Bùi Văn Chuẩn

            Người thứ ba: Nguyễn An

            Người thứ tư: Hà Văn Lạo

            Người thứ năm: Đào Văn Nhít

            Người thứ sáu: Ngô Văn Du

            Người thứ bẩy: Nguyễn Đức Thịnh

            Người thứ tám: Nguyễn Văn Tiềm

            Người thứ chín: Đỗ Văn Sứ

            Người thứ mười: Bùi Văn Cửu

            Người thứ mười một: Nguyễn Như Liên

            Người thứ mười hai: Phó Đức Chính

            Và người thứ mười ba là Nguyễn Thái Học, đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng.

            Sau cuộc thảm sát, chính quyền ngoại xâm đã mang mười ba thi hài, chôn chung một huyệt dưới chân Đồi Cao, cách nhà ga xe lửa tỉnh Yên Bái khoảng một cây số…”

            Hồng Linh đã quỳ xuống tự lúc nào, khi giòng lịch sử thầm lặng trải  từng trang máu lệ.

            17 tháng 6 năm 1930.

            90 năm đã trôi qua.

            Thế kỷ là dài hay ngắn?…

            Dăm khách qua đường nghiêng đầu ngạc nhiên, nhìn hai người trẻ tuổi yên lặng quỳ bên nhau trên khoảng đất trống.

            Linh không ghi hình.

Vũ không thâu âm.

Mà dường như hình ảnh, âm thanh từng trang sử Việt đang đầy ắp, đang rạt rào trong trái tim “Năm mươi con theo mẹ lên núi. Năm mươi con theo cha xuống biển” …

 

Huệ Trân

(Thành kính tưởng niệm)

                       

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.