Hôm nay,  

Lá Cờ Trong Tim

27/04/202110:18:00(Xem: 4169)

1

Ngày gần cuối tháng Tư, ông ngồi với một lá cờ nhỏ trên tay. Đôi mắt ông nhắm nghiền. Những ngày tháng cũ bay vùn vụt trong trí nhớ của ông. Như những mảnh ghép, không theo thứ tự thời gian, mà theo màu.

Có một ngày, ông đã tỉnh dậy vì tiếng gọi của thằng cháu nhỏ. Tiếng gọi thất thanh: 

“Ông ơi! Ông ơi!” 

Cháu đặt vào tay ông một lá cờ bằng giấy, nhỏ bằng một trang vở, có nền màu vàng và kẻ ba sọc màu đỏ. Những sắc màu này như một liều thuốc bổ thật mạnh, khiến ông nghĩ mình không thể chết. Không thể nào chết được! Ông không biết tại sao mình lại nằm trên chiếc giường này, và nằm đã bao lâu. Ông thử, nhưng không làm nổi một động tác nhỏ nào. Ông cố mấp máy môi, nhưng không phát ra được một lời nào. Chỉ có một ý nghĩ trong đầu: “Mình không thể chết!”

…Vâng, ông đã bị stroke. Ông đã mê man trên giường bệnh gần một tuần lễ. Và ông đã trở lại. Ông phải trải qua một tiến trình lâu dài và khó nhọc để trở lại. Điều may mắn cho ông là gia đình săn sóc, khích lệ ông. May mắn nữa là thằng cháu nhỏ thường trò chuyện với ông. Cái lá cờ ông tặng cháu, lại trở thành một động lực to lớn cháu trao ông để ông can đảm chiến đấu với căn bệnh, với những khó khăn kéo dài tiếp theo. 

Ngày ấy qua đã mười hai năm. Giờ đây, thằng cháu nhỏ của ông được hai mươi hai tuổi. Cháu cũng vẫn thường trò chuyện với ông mỗi khi về nhà. Cháu cũng hay nhắc lại chuyện cháu nghe ba cháu, người con út của ông, nói rằng khi còn học trung học, ba cháu đã khóc mà xin cô giáo cho treo cờ vàng trong ngày hội, bởi vì đó là lá cờ mà những người Việt quốc gia đã giữ gìn và mang theo trên mọi nẻo đường đi tìm tự do. Và cô giáo, cũng như nhà trường, đã đồng ý. Treo cờ vàng, không phải cờ đỏ.

Có một ngày, trong thời học sinh của ông, ông ngước lên nhìn trời trong khi đang chào cờ. Bầu trời xanh ngắt. Lá cờ vàng tung bay trong gió. Chào cờ, và hát quốc ca, có lẽ người học sinh nào cũng nghĩ đó là một chuyện đương nhiên trong đời. Nhưng bầu trời xanh quá, ông muốn reo lên. Một cánh chim vụt bay qua nền xanh đó. Ông nhắm mắt lại, thưởng thức một niềm vui không tên. Và tưởng tượng, cậu học sinh lúc đó, mình là cánh chim kia, nhìn xuống sân trường để ngất ngây với một màu trắng. Màu trắng áo học trò.

Có một ngày, người thanh niên mặc vào màu áo trận. Màu xanh lá cây rừng. Nghe lãng mạn như lời trong những bài thơ, bài hát. Nhưng thực tế là súng đạn, là pháo bom, là máu lửa, là những vết thương. Là những khi reo vang vì treo được lá cờ trên những vùng tái chiếm. 

Có một ngày, không, phải nói rất nhiều ngày, trong mắt ông chỉ là màu xám và màu nâu. Màu của những bộ quần áo lao động. Màu của tủi buồn dành cho những người không bỏ anh em, không bỏ bạn bè. Màu của đất rừng những ngày khổ sai, trồng trọt, đào bới tìm chút khoai củ. Màu của đất khi những người tù phải tự đào để chôn cất bạn tù bỏ mình vì bạo bệnh. Không có hành khúc nào dành cho những người ấy. Chỉ có những vần thơ, những nốt nhạc nén chặt trong tim, tự lắng nghe trong màu đen của những đêm thao thức nhớ nhà.

Được chào cờ và hát bài quốc ca của mình, không phải chuyện đương nhiên. Điều đó, chỉ những người mất quê hương mới cảm nhận được. Những người tù như ông, chỉ còn một cách, nhắm mắt lại và hát thầm bài quốc ca, với lá cờ vàng bay bổng trong tim.


2

Bé Tú!”
Ông lại gọi thằng cháu là “Bé Tú” dù cháu đã hơn hai mươi tuổi. 

“Dạ, ông, mình đi bộ nhé ông!”

Đứa cháu nội thông minh, chịu tìm hiểu, dù bận việc học nhưng cũng rất gần gũi với ông. Tú ở trong trường, thỉnh thoảng về, lại cùng ông tâm sự. Sau khi bị stroke, sức khỏe của ông kém đi nhiều. Bà cũng không còn nhanh nhẹn. Các bác, các cô thay phiên nhau hoặc cử người đến giúp ông bà. Vào năm đại dịch, Tú rút về nhà học trên máy, có thì giờ ở bên ông nhiều hơn. 

Hai ông cháu đi bộ, qua những con đường quen thuộc gần nhà. Khác với ngày xưa, giờ đây ông phải dùng cây gậy. Ông tự nghĩ mình may mắn lắm rồi, vì sau thời gian tập luyện ông đã có thể tự đi, dù cũng phải cần có ai đó đi kèm khi ra ngoài.

Trên con đường hai ông cháu đi bộ trong khu xóm yên tĩnh, có nhiều nhà treo lá cờ Mỹ quanh năm. Đối với họ, treo lá cờ của nước Mỹ hầu như là một sự đương nhiên. Và mỗi khi họ chào cờ, trong tiếng nhạc hoặc trong lời bài quốc ca Hoa Kỳ, họ đưa bàn tay phải đặt lên ngực trái, nơi có trái tim. Ông chạnh lòng. Người Việt mình khi chào cờ không đặt tay lên ngực, nhưng, lòng rộn ràng theo những lời “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi!” Và như ông, bây giờ, nghe thổn thức với những lời hát này. Sống trên mảnh đất tự do, không hề lo sợ, không bị cấm đoán khi mang lá cờ vàng, nhưng ông vẫn luôn mang tâm trạng buồn nhớ, mất mát. Ông vẫn còn thiếu quê hương!

Khi về gần đến nhà, Tú nhắc ông:

“Ông ơi! Sắp đến ngày ba mươi tháng Tư…”

Ông gật đầu:

“Phải.”

“Mỗi năm đến ngày này ông đều nhắc treo cờ. Vậy con về treo cờ ha ông!”

Ông bỗng nghe như bước chân khựng lại. Ông thoáng thấy mình muốn ngã.

“Ông sao vậy ông?”

“Không sao con à! Ông chợt nhớ đến câu chuyện trao đổi với ông cụ John thôi.”

Tú im lặng. Ông cụ John, trạc bằng tuổi ông, là người hàng xóm kế bên nhà, rất dễ thương, thường chào hỏi trò chuyện với ông. Ông cụ John treo lá cờ Mỹ cũ rách trước nhà, chờ người con trai đi lính trở về để cùng thay một lá cờ mới. Vào cái ngày bạo loạn ở Điện Capitol, ông cụ John đã ra trước sân, gọi ông của Tú. Nét mặt ông hoảng hốt. Ông mở cái ipad, chỉ vào một trang tin và nói với ông của Tú:

“Ông xem, sao cái lá cờ của ông lại bị xếp vào chung với những lá cờ này?”

Hôm đó, ông của Tú chỉ biết lắc đầu khổ sở. Ông cụ John hiểu ý, không nói thêm.

Cũng hôm đó, cô Tư của Tú, hớt hải chạy về nhà, trốn biệt trong phòng. Đến tối khuya, cô mới xuất hiện, và nói rằng cô đã cùng các bạn nhập vào đám đông đi “đòi công lý.” Nhưng cô đã kịp chạy tránh đi, khi thấy lá cờ vàng bay phấp phới trên nóc Điện Capitol. 

Ngày hôm ấy, một ngày đối với ông thật khủng khiếp, ông tưởng như nó cũng đen tối như cái vùng đen mà ông từng chìm trong đó. Ông bỏ cơm. Ông không nói một lời. Ông không thể tưởng tượng được cái lá cờ thiêng liêng của đất nước lại bị sử dụng như vậy. Đau khổ hơn nữa là một người con của ông, và nhiều người nữa, không hiểu giá trị của lá cờ này, nỡ dùng nó như một vật trang sức, để phô trương, để tự nhân danh những người lính cao cả của một thời. Ông từng là học sinh, từng làm thầy giáo, từng làm lính. Bài học Công Dân thấm thía vô cùng! 

Ngày hôm sau, ông cầm lá cờ vàng, cái lá cờ đánh thức ông dậy sau những ngày hôn mê, ông ngắm nghía, và ông khóc. Ông nghĩ chắc từ nay ông sẽ cất nó vào tim.

3

“Bé Tú! Ông đã tám mươi tư tuổi. Bạn của ông, có người khỏe mạnh hơn ông, còn lái xe, còn chơi thể thao, còn đàn hát. Có người nằm trong nursing home. Có người đã qua đời. Bạn của ông, có người còn chưa được biết tuổi già, vì họ đã gửi mình vào đất trong thời chiến. Bạn của ông, có người trở thành tàn phế sau khi dâng tặng một phần thân thể cho đất nước. Và ông, khi ông ra khỏi những nơi gọi là “trại cải tạo” ở rừng sâu, núi cao, ông biết rằng ông đã để lại tuổi xuân của mình trong đó. 

Bé Tú! Ông chọn nơi này làm quê hương thứ hai, có thể sẽ là nơi ông gửi nắm tro tàn. Ông không có cơ hội góp phần xây dựng mảnh đất của ông cho vẻ vang hơn. Nhưng ông, cũng như đại đa số đồng bào của mình, đều trân trọng nền dân chủ tuy ngắn ngủi nhưng tốt đẹp của nước Việt Nam Cộng Hòa. Không những thế hệ của ông, hay thế hệ của các bác, các cô và ba của con, mà cả những bạn trẻ chưa từng sống trong thời gian có đất nước tốt đẹp ấy, nhưng biết tìm hiểu, biết vượt ra khỏi bức màn vô hình che mắt họ, họ đã ao ước, đã trân trọng nền dân chủ đó biết bao. Chính vì vậy mà có những người đã phải vào tù, đơn giản chỉ vì nói lên sự thật, chỉ vì muốn đem những bài học chính trị căn bản đến cho người dân. Có bạn trẻ ra tòa với chiếc áo “ba sọc” và niềm hãnh diện. Ông ngưỡng mộ họ. Họ ra tòa cộng sản chỉ vì yêu mến lá cờ này, lá cờ mà các bạn chưa hề được đứng chào. 

Chưa hết, bé Tú ơi! Có bạn được đi du học, đến đây, đã mua cho được một lá cờ vàng, giấu giếm đem về nước, coi như một báu vật. Một miền Nam tự do đã mất, nhưng sẽ sống lại, ít nhất là trong lòng người. Và khi người ta nhận rõ giá trị của cái đã mất đi ấy, người ta sẽ làm cho nó hồi sinh.

Ông thương lá cờ đó như thương tuổi hoa niên trong sáng của mình. Lá cờ bằng vải, bằng giấy, hay chỉ là ba sọc đỏ Bắc Trung Nam vẽ trên nền vàng, in trên khăn quàng, trên áo, đều là biểu tượng của một đất nước đáng tôn vinh. Và giờ đây, trên những xứ sở cưu mang người Việt, lá cờ đó là biểu tượng của cộng đồng người Việt tự do, của những người Việt tử tế, biết trân quý nền dân chủ của quê hương thứ hai. Lá cờ ấy cũng phải qua nhiều lần đấu tranh khó khăn để được công nhận.”

Tú yên lặng lắng nghe ông. Thuở đặt lá cờ vào tay ông, Tú chỉ biết đó là hạnh phúc của ông. Bây giờ, Tú đã hơn hai mươi tuổi, Tú biết thêm nỗi đau mà ông mang theo cùng lá cờ đó. 

Cô Tư của Tú đứng ở cửa, trên tay cầm lá cờ vàng mà nhà ông thường treo trong những dịp đặc biệt.

“Ba! Ba cho con treo lá cờ để tưởng niệm ngày ba mươi tháng Tư?’

Ông gật đầu:

“Ừ, con treo đi! Bé Tú, phụ cô Tư nghen con! Chắc chắn, sẽ có những người đi đường dừng lại và hỏi chúng ta nhiều câu khó trả lời. Nhưng các con đừng ngại. Hãy giải thích cho họ hiểu. Đây là lá cờ di sản đáng hãnh diện của người Việt chúng ta.”

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Tháng Tư, 2021




Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.