Hôm nay,  

Chuyện Gà Tây

22/11/202117:17:00(Xem: 3554)

 

GA TAY
Gà Tây. (www.pixabay.com

 Lá đổ ào ạt, từng mảng lá rụng đồng loạt, từng bựng lá bay như đàn bướm. Trời cuối thu, mặt đất phủ đầy lá, đâu đâu cũng lá. Rừng cây đã gần trơ trọi, những khoảng trống, những thân cây như bộ xương cắm trên mặt đất cố vươn những cánh tay lên hư không. Lão Omeehar bệ vệ trong bộ lông xanh đen pha xám, mào và tích lòng thòng chảy dài. Lão nặng đến ba mươi cân Anh chứ ít sao, lúc nào cũng khệnh khạng dẫn ba mụ vợ và đàn con đi loanh quanh kiếm ăn. Ba mụ vợ nhỏ con hơn hẳn, lông cũng xỉn màu chứ không diêm dúa như lão. Khu rừng sồi cạnh đồng cỏ này là lãnh địa của lão ta, lão luôn đảo mắt canh chừng cho vợ và con. Trong lúc kéo được con giun từ trong đám mùn lá, lão chợt  nhớ ra mùa này là mùa kiếp nạn của giống nòi, cũng vào thời gian này, năm ngoái bọn người đến đây  hốt trọn cả ổ. Lão may mắn chạy thoát, sau đó mới cặp lại ba bà này và sanh ra một đám nhóc tì mới. Lão vẫn nhớ như in cái cảnh tượng kinh hoàng đó, cho nên lão cảnh giác cao độ, hễ có tiếng động hay bóng dáng bọn người là lập tức kêu toáng lên để cho cả đàn biết, tuy vẫn miệt mài kiến ăn nhưng lão không quên nhắc nhở:

- Chúng mày đừng có ham mồi mà quá mà toi mạng, hãy cẩn thận, hễ thấy bóng dáng lũ người là phải lủi ngay lập tức! Tìm chỗ kín ẩn trốn, mùa này lũ người đang săn bắt chúng ta để làm cỗ cho buổi lễ của bọn họ.

 Ba bà vợ gục gặc đầu ra vẻ hiểu chuyện, mắt ngẩng lên nhìn dáo dác một tí, miệng kêu cục cục liền cúi xuống bới tìm thức ăn ngay, xem ra lời cảnh tỉnh của lão Omeehar chẳng đủ đô để gây được sự chú ý của ba bà vợ và đàn con. Bọn chúng cứ tí tởn, đủng đỉnh chẳng chút sợ chi, có lẽ bọn chúng chưa từng đổ lệ nên hổng biết kiếp nạn thảm khốc của giống nòi.

 Lão Omeehar dẫn cả bầu đoàn thê tử đi qua một cánh rừng khác, ở đấy gặp gia đình lão Lakoonee và gia đình chú em Chatoogar. Các bà vợ lập tức xúm lại cục cục tám đủ thứ chuyện trên rừng dưới rú. Bà Cherooko, vợ cả của lão Omeehar cất giọng khào khào:

- Này các bà, ở đây có nhiều thức ăn không? Tôi bảo lão chồng tôi phải đến gần trang trại của lũ người mới có nhiều thức ăn, ở đấy lũ người làm rơi vãi nhiều kê, bắp và các loại hạt khác. Khổ nỗi lão chồng tôi nhát như thỏ đế, lão bảo chốn ấy nguy hiểm nên chẳng chịu đến đó.

 Mụ Vajero, vợ lão Lakoonee hưởng ứng:

- Bà nói đúng đấy, gần trang trại của lũ người mới có nhiều ngô, thóc rơi vãi, đến đấy tha hồ ăn. Ông nhà tôi cũng giống lão chồng của bà, lúc nào cũng sợ sệt, lão cấm ngặt cả nhà không được bén mảng đến gần trang trại.

 Mụ vajero nói xong núng nính đi một vòng rồi lại tám với bà Cherooko:

- Bộ cánh của bà năm nay đẹp đấy!

- Cảm ơn bà, có lẽ năm nay ăn uống đầy đủ nên lông cũng mướt ra. Bà thấy đấy, lão chồng tôi cứ như là con công đực, bộ lông, tích, mào của lão rực rỡ sắc màu, lão diện thấy mồ!

 Miệng nói thế nhưng trong lòng mụ ta đầy sung sướng hãnh diện, chất giọng của mụ thể hiện ra tất cả, rõ ràng mụ cố khoe chồng đấy thôi! Mà sự thật cũng đúng vậy, nhờ cái mã bề ngoài ấy mà lão tán em nào là em ấy đổ, mụ mê lão cũng vì thế, rồi mụ Kaorosee và mụ Betoonar cũng mê đắm chấp nhận làm vợ bé. Một lát sau họ nhà gà tây từ các khu rừng lân cận kéo đến, một số từ các đồng cỏ cũng tụ tập lại thật đông. Lão Omeehar nhảy lên mô đất cao, dõng dạc cất tiếng:

- Này người anh em thân mến, này họ nhà gà tây chúng ta! Dòng tộc chúng ta ở đây đã bao đời, đất này của tổ tiên chúng ta truyền lại. Từ khi lũ người khám phá ra và kéo đến đây, bọn họ cướp quyền làm chủ và bách hại chúng ta. Tôi còn nhớ lời cụ tổ truyền lại, năm ấy khi lũ người kéo đến xứ sở này, bọn họ chịu không nổi mùa đông khắc nghiệt nên bỏ mạng gần hết. Những kẻ sống sót nhờ thổ dân bản địa giúp đỡ thực phẩm, chỉ cách trồng trọt và cách tồn tại, đến mùa thu năm sau, bọn họ gặt hái thu hoạch mùa màng rất đầy đủ sung túc. Bọn họ làm lễ tạ ơn trời đất, tạ ơn mùa màng, lễ vật bọn họ không chỉ là ngô, khoai tây, bí ngô… mà còn có cả thịt của chúng ta. Kể từ đó về sau, năm nào bọn họ cũng tổ chức lễ tạ ơn và cũng từ đó xảy ra kiếp nạn cho dòng tộc chúng ta. Khi lũ người đến xứ này còn ít, bọn họ săn bắt chúng ta, tuy nhiên với cái mức độ không đáng là bao, chúng ta có thể chấp nhận được, coi  như là sự hao hụt tự nhiên. Tuy nhiên khi lũ người ngày càng đông, mức độ săn bắt càng khốc liệt hơn, việc này đe dọa sự tồn tại của giống nòi, có nhiều loài đã tuyệt diệt, chẳng hạn như họ nhà bò bison. Khi họ gà tây chúng Ta trong thiên nhiên không còn nhiều nữa. Lũ người lập ra những trại nuôi gà tây, mỗi mùa lễ tạ ơn, lũ người giết đến mấy mươi triệu mạng gà tây. Bọn họ giết mấy mươi triệu mạng sống để mừng một cái lễ tạ ơn, không biết ơn ai mà chúng ta phải chịu cái nạn này?

 Lão Omeehar nói một hơi dài, không biết có chuẩn bị trước hay không mà rất trôi chảy và đầy tính thuyết phục. Lão xúc động quá nên nghẹn lời, khóe mắt lão rơi hai giọt nước trong vắt như hạt sương trên ngọn cỏ sớm mai. Phải công nhận lão nói hay quá, thật quá làm lay động cả lũ gà tây, bọn chúng rù rì rúc rích với nhau, nhiều kẻ cảm động mạnh nên mặt mày đỏ gay. Lão đệ Lakoonee cất giọng khàn khàn:

- Kiếp nạn của dòng tộc ta, mỗi năm vào mùa lễ này, mấy mươi triệu sinh mạng bị giết thịt, tại sao lũ người tạ ơn mà lại đi giết chúng ta? Xem ra cái tạ ơn này chẳng đem lại ơn mà chỉ sanh oán.

 Đám gà tây lào xào tao tác, bọn chúng ngừng tìm thức ăn, trong cái giây phút tỉnh ngộ hiếm hoi này chúng biết sợ, biết lo, biết thao thức vì giống nòi. Chỉ tiếc là khoảnh khắc thức tỉnh ngắn ngủi quá, chỉ chừng phút chốc là lập tức quên ngay. Chúng lại tiếp tục tìm kiếm thức ăn, tranh nhau ỏm tỏi, đánh nhau dữ dội. Mụ vợ lão Omeehar và một mụ gà tây xa lạ khác tru tréo giằng xé giành nhau một con giun. Mụ nào cũng cố nuốt phần nhiều hơn, chẳng ai chịu ai, trợn mắt, xòe cánh, gương móng sẵn sàng ẩu đả. Con giun đứt làm đôi, mỗi mụ nuốt một phần. Mụ Cherooko điên tiết chửi:

- Con bà nó! Mày dám giựt giun của bà à? Cà chớn là bà chơi tới bến, bà chẳng ngán con nào!

Mụ gà tây xa lạ kia cũng chẳng vừa:

- Giun nào của bà? giun của đất, của rừng, ai bắt được ăn! Bà làm gì tôi nào? Bà muốn chơi kiểu nào tôi cũng chìu!

 Cả hai mụ đều hầm hè gầm ghè nhau, những lời đầy tâm huyết của lão Omeehar vừa lọt vào tai này đã bay qua tai kia mất rồi, chẳng có chút nào đọng lại trong đầu hay trong trong tim. Mà nào chỉ có hai mụ  quên, cả bọn gà tây cũng thế thôi, xúc động một tí, tỉnh thức một tí khi nghe lời tâm huyết cảnh tỉnh nhưng quay lại kiếm mồi là lập tức quên béng ngay. Cả bọn lao vào tranh ăn, đánh nhau vì con mái, cấu xé nhau vì kẻ kia có bộ mã đẹp hơn, chơi nhau tới bến vì thằng nọ có tiếng kêu nổi trội, hạ gục nhau vì lãnh địa...Lão Omeehar lắc đầu, nào phải ai xa lạ, ngay cả vợ con lão cũng thế kia mà, lão còn ngơ ngẩn không biết xử lý sao thì chú em Chetoogar khều khều lão Omeehar và lão Lakoonee nói nhỏ:

- Kiếp nạn của dòng tộc chúng ta có phải đáng lo lắng lắm không? Tôi nghe người ta chỉ giết gà tây nuôi ở trang trại thôi mà! Lũ gà tây công nghiệp ấy nhiều vô số, không gây ảnh hưởng gì chúng ta!

 Lão Omeehar lấy đôi cánh vỗ vỗ đầu chú em:

- Chú em khờ quá, tuy lũ người giảm săn bắt gà tây tự nhiên nhưng kiếp nạn của dòng tộc vẫn nguy hiểm lắm. Còn bọn gà tây công nghiệp tuy có khác chút ít với chúng ta nhưng cũng là dòng giống, cũng là mạng sống. Lẽ nào bọn họ giết mấy mươi triệu mạng sống mà chú em cho là không quan trọng sao?



 Lão đệ Lakoonee phụ họa:

- Không phải chỉ giết thảm, ngay cả sống cũng thê thảm lắm, hàng chục triệu sinh mạng chen chúc trong những cái chuồng kín mít, ăn thức ăn công nghiệp, bị chích thuốc tăng trưởng và các loại hóa chất khác. Đời sống trong chuồng công nghiệp là một vòng tròn kín từ khi ra đời cho đến khi giết thịt, những chuồng trại ấy đích thị là địa ngục trần gian, hàng triệu con gà con sẽ được máy sàng lọc, con nào không đủ tiêu chuẩn sẽ bị xay nát làm thức ăn cho những con khác, những con đủ tiêu chuẩn cứ đứng trong chuồng, chỉ có ăn, bài tiết và chờ đủ ngày thì giết thịt.

 Lão ngưng một tí, tằng hắng rồi lại tiếp:

- Những con gà tây công nghiệp không thể sống trong môi trường tự nhiên, những đặc tính của gà tây tự nhiên đã mất gần hết rồi, chúng chỉ là những cái bị thịt ăn, thở và bài tiết. Thịt gà tây công nghiệp dành cho đại chúng, còn những thành phần giàu có hay những kẻ sành điệu thì vẫn thích thịt gà tây tự nhiên, bọn chúng sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền để săn bắt hay mua gà tây tự nhiên mà ăn.

 Trong lúc lão Omeehar, Lakoonee, và chú em Chetoogar đàm đạo chuyện tồn vong của giống nòi, lũ gà tây vẫn nhởn nhơ như chẳng có việc gì xảy ra. Bọn chúng chẳng quan tâm gì đến tiền đồ hay vận mệnh của họ nhà gà tây, có không ít kẻ còn cười cợt chế giễu. Thằng Umeka bĩu môi:

- Lo bò trắng răng, cứ vui chơi hưởng thụ đi, chuyện ấy cứ để bọn người lo. Làm gì có chuyện tuyệt diệt, còn chuyện lũ gà tây công nghiệp lại càng chẳng đáng quan tâm, bọn ấy không cùng đẳng cấp với chúng ta.

 Một đám đông ồn ào hưởng ứng, thằng Umeka được thể càng hung hăng hơn, nó kêu gọi:

- Anh em ơi, tội gì chúng ta không hưởng thụ ăn chơi cho sướng đời, đời có bao nhiêu đâu? Những chuyện bao đồng cứ để lão già Omeehar và những kẻ như lão ấy lo!

 Thằng Umeka dứt lời, đám choi choi, những lão sồn sồn, mấy em chân dài móng đỏ… hò reo rần rần:

- Chúng ta sống phải hưởng thụ ăn chơi cho đã đời, chuyện dòng tộc, lãnh địa có người khác lo.

 Bọn chúng tụ thành nhóm theo sở thích rồi kéo ra bìa rừng giao phối, ăn giun dế ,hạt cỏ… Đám  theo thằng Umeka đi rồi, số còn lại tuy nhiều hơn nhưng lừng khừng chẳng nghe theo lão Omeehar nhưng cũng chẳng chấp nhận lời thằng Umeka. Cái đám đông này rất bạc nhược và dễ lung lay, khi nghe lời hùng biện của lão Omeehar thì cho là đúng nhưng khi gặp lời xảo biện của thằng Umeka thì cũng cho là phải, Chuyện dòng tộc, lãnh địa tuy có biết đến nhưng chỉ với vài con giun, nắm hạt kê là lập tức quên béng ngay thôi, sẵn sàng đấu đá nhau chí tử để giành những cái món bé tí đó. Lão Omeehar kiên nhẫn, chờ lắng xuống một chút, lão lại lên tiếng, giọng lão trầm lắng hơn, pha chút ngậm ngùi: 

- Lũ người buồn cười thật! Chúng ta đang sống tự do ở trong rừng, chẳng gây hại ai ấy thế mà bọn họ săn đuổi chúng ta, giết chúng ta để ăn thịt, bọn họ kháo nhau thịt gà tây tự nhiên ngon hơn gà tây công nghiệp. Có một điều mỉa mai hơn hết, mỗi năm họ bắt một kẻ to nhất và đẹp nhất trong chúng ta để đem về dinh quốc chủ làm lễ tha mạng. Đời sao tréo ngoe? Kẻ làm hại đi tha tội cho kẻ bị hại, chúng ta có tội tình gì để được quốc chủ tha mạng?

 Đám đông lại hưởng ứng vỗ cánh phành phạch làm cho đám lá khô dưới chân xào xạc bay tan tác. Chúng đồng thanh gào to:

- Chúng tôi có tội tình gì? Chúng tôi chẳng cần ai tha mạng, hãy để chúng tôi sống tự do!

 Cánh rừng rụng hết lá nên trống trải, tiếng gào của chúng theo gió bay đi thật xa, lan qua đồng cỏ, men theo sông suối, tỏa đến cả những vùng vốn quanh năm thâm u vì lá rừng. 

 Buổi sáng ngày lễ tạ ơn, dinh quốc chủ trang hoàng thật đẹp, đầy đủ sắc màu gợi nhớ một mùa màng bội thu. Dinh quốc chủ cũng như mọi nơi khác của xứ sở này, tất cả đã sẵn sàng cho mùa lễ cuối năm. Trước sân dinh quốc chủ, một chú gà tây to béo và trắng muốt, đuôi xòe tròn như nan quạt, mào tích dài lòng thòng đỏ tươi. Chú gà tây đang chờ quốc chủ ra làm lễ tha mạng. Cánh phóng viên, nhà báo của các cơ quan truyền thông đã túc trực đông đảo, những nhân viên an ninh và phục vụ đi lại lăng xăng tíu tít. Chú gà tây tròn xoe mắt nhìn, dường như chú ta cảm nhận có việc chi đó sắp xảy ra nhưng chú ta không biết là việc gì. Chú ta là kẻ may mắn hơn mấy mươi triệu đồng loại của chú trong mùa lễ này. Chú sẽ được quốc chủ tha mạng, hình ảnh chú sẽ được người ta phát lên trên truyền thông, trên mạng xã hội. Cả thế giới đều thấy chú may mắn khi được quốc chủ tha mạng. Một sự kiện không thể thiếu trong mùa lễ này của xứ sở. Chú không thể nào biết được, ngoài sân thì lễ tha mạng cho chú rất trang trọng nhưng cũng lúc ấy trong đại sảnh, trên bàn tiệc có mấy kẻ đồng loại của chú đã bị quay vàng ươm, đang chờ quốc chủ và bộ sậu làm lễ tha mạng xong sẽ vào khai tiệc. Chú quả thật may mắn, bị bắt từ rừng đem về dinh để làm lễ tha mạng. Cả thế giới loài người thấy chú được tha mạng trong khi mấy mươi triệu đồng loại của chú bị chết thảm, bị quay trong những cái lò nướng hiện đại hoặc bị hầm nhừ trong những cái nồi tân tiến mà chẳng ai thấy biết. Chú được tha mạng mừng lễ tạ ơn, đồng loại chú bị giết thịt cũng vì lễ tạ ơn.

 Dinh quốc chủ thật tưng bừng, thật vui nhộn rộn ràng. Chú bé kenny J, con trai quốc chủ đến bên chú gà tây sắp được tha mạng. Chú bé ôm lấy gà tây vỗ về:

- Cậu may mắn lắm đấy, lát nữa thôi, ba tớ sẽ tha mạng cho cậu. Cậu hãy về đồng cỏ rừng hoang sống vui vẻ nhé!

 Chú bé vuốt bộ lông trắng muốt mướt rượt của gà tây, chú mân mê cái tích dài tòng ten của gà tây không chán. Mái tóc vàng hoe của chú bé cạ cạ vào bộ lông trắng gà tây sao mà hài hoài và đẹp đến lạ lùng. Chợt chú bé nắm tay lão trợ lý thân cận của quốc chủ lắc lắc:

- Tại sao chỉ tha mạng cho mỗi con gà tây này mà không tha mạng cho những con gà tây khác?

 Lão trợ lý cười với Kenny.

- Không được, nếu tha mạng cho hết thì lấy gì ăn để mừng lễ tạ ơn?

 Chú bé vẫn không chịu:

- Chúng ta có thể ăn khoai tây, bánh mì, cháo kê, bí ngô… và nhiều món khác nữa!

- Không thể được! Truyền thống chúng ta là lễ tạ ơn phải ăn gà tây.

- Mình tạ ơn sao lại phải ăn chúng? Chúng hiền lành và dễ thương thế kia mà.

- Khi tổ tiên chúng ta đến đất này, chúng ta đã ăn khoai tây, bánh mì và gà tây để sống sót và giờ đã là truyền thống.

- Chúng ta giết chúng để ăn thịt sao lại làm lễ tha mạng chúng?


 Lão trợ lý đuối lý, không biết nói thế nào cho chú bé thông, vả lại y cũng bận rộn với trách nhiệm của y, phải hoàn tất những khâu cuối chuẩn bị cho quốc chủ ra làm lễ tha mạng gà tây. Lão ta chốt hạ:

- Cháu muốn biết thì hãy gõ vào google để tìm hiểu thêm nhé! Chú đang đang bận cho buổi lễ, không có thời gian để trò chuyện với cháu, hẹn gặp cháu sau nhé!

 Nói xong lão rảo bước đi ngay, chú bé vẫn quyến luyến bên con gà tây không muốn rời, cái khoảnh khắc cảm thông của chú bé vô tình lọt vào ống kính của máy chụp hình và máy quay phim của đám phóng viên, chẳng mấy chốc hình ảnh này tràn ngập khắp các màn ảnh trên toàn thế giới, mạng xã hội cũng dậy sóng theo hình ảnh này, cái hình ảnh ngây thơ, trong sáng và nhân bản trở thành tin nóng nhất của chương trình thời sự, có vô số lời bình và bấm nút yêu thích trên mạng xã hội. Các gia đình ăn tiệc mừng lễ tạ ơn, vừa ăn thịt gà tây vừa tấm tắc khen ngợi hình ảnh chú bé con ôm chú gà tây được tha mạng trong buổi lễ tạ ơn.


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Ất Lăng thành, 11/21

 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.