Hôm nay,  

Vui, Buồn, Tháng 12…

07/12/202117:02:00(Xem: 4502)
VUI BUON 2
Một hình ảnh của Sài Gòn hoa lệ vào tháng 12, trước 1975.



1.

 

Xa xưa, vài năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước, chiến tranh còn chưa khốc liệt mà chỉ mới có mặt đâu đó ở những vùng rừng núi thật xa đô thành Sài Gòn, lâu lắm mới nghe tiếng đại bác chợt vọng về thành phố ban đêm. Do đó, ít ra là đối với tuổi niên thiếu hồn nhiên của những cậu bé dân Sài Gòn như tôi, những tháng 12 thời ấy quả là “bình yên dưới thế” nên bọn nhóc chúng tôi đều vô tư, háo hức trông chờ những lễ hội lớn lao, thật vui vẻ là lễ Giáng Sinh và Tết dương lịch.

 

Chính vào thời ấy, tôi mới bắt đầu hiểu lễ mừng Chúa Giáng Sinh hằng năm không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng của riêng người Thiên Chúa giáo mà thực tế còn là một lễ hội lớn của toàn cầu, gắn liền với lễ hội đón Năm Mới của toàn nhân loại, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, màu da, châu lục nào. Vào mùa Giáng Sinh, giáo dân lo hành lễ ở nhà thờ của mình rồi cùng toàn thể mọi người chúc tụng, tặng quà qua lại, họp mặt, tiệc tùng, khiêu vũ, vui chơi, hẹn hò, v.v…

 

Cứ bắt đầu nghe bản Jingle Bells vang vang ngoài phố cùng hình ảnh ông già Noel cỡi xe tuần lộc tươi cười trên những tấm thiệp đẹp đẽ là tôi đã cảm thấy vô cùng nôn nao, hí hửng. Bọn trẻ, bọn thanh niên nam nữ thì lúc nào chẳng chộn rộn trong những mùa hoan lễ!

 

Năm nào cũng vậy, bác Phán, một con chiên ngoan đạo, bạn bố tôi, cũng mời toàn bộ gia đình Phật giáo chúng tôi đến chơi ở nhà bác suốt đêm 24, hay ít ra phải có mặt lúc nửa đêm để cùng ăn réveillon. Người ngoại đạo, không phải Thiên Chúa giáo, cũng rầm rộ tổ chức ăn uống vui vẻ. Một cái cớ quá đẹp cho các ông chè chén thâu đêm trong cái lạnh nhè nhẹ tuyệt vời cuối năm.

 

Sau khi đã mỏi chân dạo phố Tự Do, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… tráng lệ đèn hoa (đặc biệt rực rỡ là khu vực nhà thờ Đức Bà quận Nhứt và nhà thờ Đức Bà khu Tân Định), ai nấy trở về nhà mình hay nhà bạn bè, cùng nhau ngồi vào bữa tiệc nhất định kéo dài. Đối với cậu bé háu ăn là tôi, người ta mừng Chúa ra đời bằng tất cả tình cảm kính yêu Chúa là rất tốt, nhưng càng tốt hơn nhiều khi có thêm món gà tây tuyệt vời ở nhà bác Phán. Hồi đó, tôi đã tưởng tượng vào ngày lễ Phật Đản, bên cạnh mâm cơm chay của bà ngoại và mẹ tôi mà còn có thêm một chầu buffet đại loại như bữa réveillon đêm Noel thì hay quá! Vào cái đêm đặc biệt này, tôi còn được người lớn cho phép uống một tí rượu vang nữa. Chưa hết, tại nhà bác Phán,  bác ấy còn nghiêm trang cho biết do nghe tôi đã được lãnh bảng danh dự “đỏ” trong lớp học (hồi đó, hằng tháng có 3 bảng màu đỏ/ xanh /vàng cho 3 hạng nhất /nhì /ba) ở tháng 11 nên ông già Noel quyết định có phần thưởng cho tôi, y như cho tất cả trẻ em ngoan ngoãn, học giỏi trên trái đất này nhân mùa Giáng Sinh. Ông già Noel đã nhờ chủ nhà chuyển tới cậu khách “nhí” một món quà Noel thật xinh xắn, tương tự như đám con của bác đã nhận trước đó…

 

Ông già Noel muôn đời tốt bụng! Và bác Phán – người đại diện của ông cũng tốt bụng không kém dù bác có hơi đãng trí, quên mất rằng tôi lúc ấy đã là một thiếu niên, dễ gì bị gạt về sự tồn tại huyền thoại của thánh Nicolas ở thế kỷ 20 cùng các trò ma mãnh của ông ấy, như chui ống khói vào nhà, bí mật để quà tặng trên đầu giường cho bọn trẻ, khi chúng vẫn còn say ngủ với những giấc mơ thật đẹp… Không sao cả, vì không gì sung sướng, hạnh phúc hơn cho bằng làm con nít mà được người lớn gạt gẫm kiểu này. Cứ để cho bác Phán phỉnh tôi bởi đã… yêu thương tôi không khác con cái nhà bác mà chia đều quà cáp mùa Giáng Sinh.

 

Vào thời ấy sao người ta có thể sống dễ chịu và rộng mở thương yêu đến thế? Hình như ai nấy đều an tâm, miệt mài làm việc trong một nền kinh tế vững mạnh. Vàng y còn khá rẻ, tiền Việt Nam “đồng cao giá hơn tiền “won” của Nam Hàn. Giới đi làm ăn lương là quân nhân – công chức (hồi đó nói tắt là quân công) ở mọi cấp bực lớn nhỏ đều có lãnh phụ cấp gia đình (tức lương vợ, lương con) cùng nhiều loại phụ cấp khác, như: phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp chức vụ, phụ cấp độc hại, phụ cấp khu vực, phụ cấp bằng cấp, v.v… Trong nước rất hiếm khi nghe nói đến nạn công chức tham nhũng. Ngày nay, thỉnh thoảng người ta còn nhắc một cách ngắn, gọn đến nền kinh tế – xã hội thời đó với cái tên “hồi một người đi làm nuôi cả nhà”. Mọi người được đãi ngộ và kiếm sống xứng đáng với mồ hôi cần lao mình bỏ ra. Để rồi, điền hình như trong mùa Giáng Sinh, người ta sống tương thân tương ái, sẵn lòng chia sẻ những gì mình có với bạn bè, không phân biệt giai cấp xã hội, tôn giáo, học thức…

 

Có cả những ông chủ người ngoại quốc rất hào phóng với nhân viên thuộc cấp người Việt. Không riêng gì ông xếp Tây bụng bự ở chỗ làm của bố tôi và bác Phán là công ty đồn điền Michelin, nhiều ông xếp Tây khác, như ở công ty đồn điền S.I.P.H., hãng bia La Rue, hãng xe L’U.C.I.A v.v… cũng tặng quà Noel rất hậu hĩnh cho nhân viên, đó là theo lệ cứ cuối tháng 12 hằng năm là ít nhiều tùy theo cấp bực và năng lực, mỗi nhân viên người Việt đều lãnh thêm lương tháng 13 cùng một phiếu tặng quà “ăn Noel”gồm như: đùi trừu (gigot), chai rượu chát, lóc bia La Rue loại đặc biệt nhãn xanh (trên thị trường chỉ có nhãn đỏ), v.v… Như vào sáng ngày 24, phố phường đông vui, nhộn nhịp, tôi được bố tôi chở đến Givral ở đường Nguyễn Huệ Q.1, cửa tiệm thực phẩm cao cấp bậc nhất Sài Gòn thời ấy. Bố tôi đưa ra phiếu tặng của chỗ làm và nhận ngay một cái đùi cừu lạnh cứng. Tôi hỉnh mũi hãnh diện vô cùng vì thịt cừu (hay thịt ngỗng, thịt gà tây) vốn là những món ăn sang trọng, cao cấp kiểu Tây mà không phải dân có tiền nào cũng có được trong tiệc Giáng Sinh.

 

2.

 

Trước biến cố máu lửa Mậu Thân 1968, cậu học sinh cuối cấp trung học là tôi lại hưởng thụ tháng 12 theo kiểu… không con nít nữa! Nguyên từ sau 1963, chính biến đã khiến nền đệ nhất Công hòa sụp đổ cùng cái lịnh cấm khiêu vũ của bà cố vấn Trần Lệ Xuân, dân Sài Gòn vui chơi thoải mái hơn. Tôi nhớ là dù phải chăm chỉ học hành cho hai cái bằng tú tài I và II (hồi đó tú tài II còn thi cả vấn đáp môn sinh ngữ chính, như tôi phải thi với một giáo sư người Pháp) nhưng cứ mùa Noel là chơi thả cửa với một nhóm bạn con nhà giàu. Con nhà trung lưu như tôi chơi với đám “công tử bột” này cũng không đến nỗi là dựa hơi, chơi ké vì tôi vừa là tên học giỏi nhất đám, nên các cậu hay nhờ tôi chỉ bài chỉ vở. Đổi lại, khi các cậu hùn tiền lập một ban nhạc trẻ thì tôi được giữ vai rhythm guitar (dự khuyết thôi). Thế là, ban nhạc không có tên này hợp tác với bạn bè trong trường và các bạn bên các trường Pháp là Marie Curie. Les Lauriers, Charles De Gaulle…

 

Chúng tôi tụ tập chơi party (hay đi “bùm” hay đi “ban” trong khi tiếng Pháp bal de famille có nghĩa là khiêu vũ gia đình) suốt từ đêm 24/12 cho đến đêm giao thừa 31/12! Nhớ là ví dụ như Noel trúng vào thứ Sáu, thì chơi suốt cho tới thứ Sáu tuần sau – một tuần lễ. Cứ chiều tối là ăn-tơ-ni (tức en tenue, tiếng Pháp có nghĩa là… lên quần lên áo, bọn học trường Việt thường nói bừa là  ăn-tơ-ni), hò hẹn kéo tới một biệt thự tư gia nào đó, nhảy nhót suốt đêm. Nếu ban nhạc “oải” rồi thì nghỉ, để băng ma-nhê hay đĩa 33 tours mà nhảy tiếp. Có một lần, khoảng 1 giờ sáng, tụi tôi nghỉ chơi, chở “đào” về chợ Đa Kao, trong nhà lồng chợ có một chỗ bán đồ ăn uống suốt đêm tới sáng. Không rõ là ăn đêm hay ăn sáng nữa nhưng dân chơi Sài Gòn đều biết chỗ ăn uống bình dân nhưng ngon lành này. Tên chef d’orchestre (trưởng ban nhạc) ngớ ngẩn hỏi: “Tối mai đi đâu hả tụi bây?” Tôi cười: “Tối nay chớ tối mai gì? Đã một giờ rồi, qua ngày mới rồi mà!” Nghĩa là người ta vui chơi đến mất cả ý niệm thời gian.

 

Nhưng có quên gì cũng được nhưng phải nhớ là chỉ vài tiếng đồng hồ thôi, phải về nhà, tắm rửa sửa soạn, bỏ bộ cánh sang trọng mặc đi nhảy đầm ra mà mặc vô bộ quần xanh áo trắng để đến trường vì giữa Noel và Tết tây vẫn có mấy ngày đi học. Bọn trẻ chúng tôi thời đó phải làm sao học cho giỏi, cho khá (còn chơi thì… khỏi nói, nhất định giỏi!) mới được cha mẹ tin tưởng mà cho tự do đi chơi. Điều vô cùng quí giá là thời đó, đám thanh niên nam nữ con nhà giàu có, thế lực như thế mà chẳng bén mùi ma túy, thuốc lắc, thuốc kích dục… như thời nay. Có ghê gớm lắm là một lần, một tên trong đám lén lấy trong tủ rượu của “ông già” hắn một chai Hennessy ra cho cả bọn uống sec thử (không kèm soda), cho le lưỡi, lắc đầu chơi – rồi thôi!

 

Đêm giao thừa dương lịch thật tuyệt vời! Còn chừng nửa phút nữa là đúng giữa đêm, mọi người dừng khiêu vũ, nắm tay nhau đứng tại sàn nhảy. Đèn tắt bớt, ban nhạc chơi bản Silent Night với volume nhỏ nhất, nghe dịu ngọt cả cái thời khắc ý nghĩa này. Tất cả nhìn vào cái đồng hồ treo tường và cùng nhau đếm ngược… Năm! Bốn! Ba! Hai! Một! Đúng 12 giờ! Lập tức đèn mở sáng, ban nhạc chơi bài Auld Lang Syne (bài ca Anh Cát Lợi cổ xưa này bị tụi tôi gọi là bài Ò e rô-be đánh đu…!). Mọi người cùng la lên “Chúc mừng năm mới!” bằng cả tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh. Lớn giọng nhất, và cũng xúc động nhất, là những người bạn ngoại quốc, cuối năm không về nước mà ở lại đón năm mới cùng bạn bè Việt Nam. Mọi người lại bắt tay nhau, ôm choàng nhau, hôn nhau thắm thiết. Một cô bé trường Marie “Cút” mới quen thôi, đẹp như thiên sứ trên trời, cũng vui vẻ cho phép tôi hôn (lên má thôi!) khi tôi ba xạo, xin một nụ hôn “lấy hên” đầu năm mới! Chủ nhà lên lấy micro chúc năm mới một lần nữa và hét lên “Nào, các bạn hãy khiêu vũ với bản nhạc đầu tiên của năm mới!”

 

Sau bài Auld Lang Syne với nhịp slow-rock êm ả, mấy cặp khiêu vũ đứng nguyên tại piste, nhảy tiếp với bài Spagna Cagni “đấu bò tót” truyền thống, nhịp pasodoble rộn ràng đầy sức sống…

 

3.

 

Rồi biến cố tháng 4-75, cuộc sống tưởng như cứ bình thường trôi theo năm tháng đã đảo lộn tơi tả. Rồi nối tiếp nhau năm tàn tháng tận, hình nét ngày 24 Giáng Sinh lại xuất hiện trên tờ lịch tháng cuối cùng, thì những kỷ niệm, sẻ chia cùng những gương mặt kề cận trong dịp lễ lớn lao này thời “trước 30 tháng 4” đã dần dà phai nhạt, tan loãng trong trí nhớ.

 

Thời thế thay đổi, rất nhiều điều vui vẻ rất bình thường trước 30/4 còn bị vùi dập bởi những khó khăn cơm áo, chứ có riêng gì lễ hội mừng Chúa Giáng Sinh, đón Năm Mới vốn đã bị ai đó lên án là trò ăn chơi, hưởng thụ của bọn tiểu tư sản? Do đó, cứ đến lễ Noel là một số, chứ không phải toàn thể, gia đình người Công giáo lặng lẽ đi nhà thờ hành lễ cho nhanh, gọn rồi trở về nhà.

 

Và giữa thời buổi xếp hàng mua gạo theo sổ tiêu chuẩn thì hãy quên đi cái tiệc réveillon thịnh soạn giữa đêm mừng Chúa ra đời mà người Sài Gòn, không phân biệt lương giáo đã cùng vô tư chia sẻ cho nhau ngày nào…

 

Vào cuối tháng 12 năm 1979, tình cờ tôi gặp lại anh chàng trưởng ban nhạc cùng học ở lớp đệ Nhị ngày xưa. Gia đình anh suy sụp hẳn sau đợt đánh tư sản, nhưng ba anh, ông thương gia có hoạt động kháng chiến chống thực dân Pháp một thời, rồi giàu sụ một thời, lại rất “giác ngộ”. Trong nhà có 10 đứa con, ông xua 5 đứa – cả trai lẫn gái – “tình nguyện” đi thanh niên xung phong, 2 đứa trai khác đi nghĩa vụ quân sự, bạn tôi và cô em gái kế út thì làm nhân viên hợp tác xã phường, còn cậu trai út thì đang làm công nhân một công ty đúc bê-tông ở gần cầu Băng Ky.

 

Lúc ấy, thấy vẻ thiểu não của bạn mình, tôi rủ anh tối 24 tới nhà tôi nhậu lai rai chơi để hàn huyên tâm sự, nhắc lại kỷ niệm xưa… Đúng hẹn, anh đến và, như cái thói quen khó cải tạo của bọn tư sản là tặng nhau quà Giáng Sinh, anh cho tôi hai gói thuốc lá quốc doanh. Tôi xúc động quá và không thể bỏ qua được cái vẻ chán đời của bạn mình. Gặn hỏi thì anh hỏi ngược lại:

 

– Ông có biết trong tháng 12 hằng năm, quên lễ Giáng Sinh đi, hiện nay có ngày lễ lớn nào không?

 

– Chịu. Có ngày lễ lớn nào đâu?

 

– Đúng là ông còn sống trên mây. Lễ kỷ niệm ngày thành lập quân đội 22 tháng 12 đó. Ông không biết cũng phải vì nhà ông đâu phải gia đình bộ đội như tôi…

 

– Nhưng… thôi, vô một cái đi rồi nói. Gia đình toàn là bộ đội, thanh niên xung phong và công nhân viên như nhà ông thì nghe nói được phong tặng là “gia đình vẻ vang” gì đó, còn muốn gì nữa mà…

 

Anh bạn ngắt lời tôi:

 

– Còn “vẻ vang” hơn nữa kìa. Bà già tôi vừa làm tổ trưởng dân phố vừa làm tổ trưởng tổ phụ lão phường, được gọi là “cán bộ” luôn đó. Nhưng để lập thành tích chào mừng ngày 22 tháng 12 này, phường bắt nghĩa vụ luôn thằng em út…

 

– Ông nói nó đang là công nhân mà, không được miễn sao, nhà cũng có hai đứa đi nghĩa vụ rồi?

 

– Nè, còn đáng nói hơn chứ, một trong hai thằng đó là thằng thứ tư, đang làm trưởng ban văn hóa thông tin trên phường mà còn phải lên đường năm 1978, gọi là để làm gương cho thanh niên địa phương! Đã nói là cần vượt chỉ tiêu giao quân để lập thành tích cho phường nên người ta “hốt” hết, từ thằng thất nghiệp lêu lổng cho đến thằng công nhân sắp vô biên chế như em tôi. Tất cả mấy đứa dính nghĩa vụ sẽ được giao quân vào đầu tháng giêng tới. À quên nói là, cách “hốt” cũng hay lắm. Thôi để “dzô” cái rồi nói tiếp…

 

Anh bạn kể là sau ngày thằng em út của anh nhận lịnh nghỉ việc ở công ty để về nhà chờ ngày lên đường thì lạ một điều là người của ban quân sự phường thường hay đi lại trước nhà anh, kể cả ban đêm. Một đêm nọ… Là dân khá giả ngày trước nên nhà anh có sân trước sân sau đàng hoàng. Nửa đêm, mẹ anh nghe chó nhà hàng xóm phía sân sau cứ ăng ẳng sủa mãi, bèn thức dậy đi xem sự tình. Té ra, có một người mặc đồng phục màu cỏ, đang lom khom núp sau hàng rào…

 

Bà hỏi lớn: “Thằng nào đó bây?” thì người kia lẳng lặng rời khỏi chỗ núp, đi mất dạng. Hiểu ra sự việc, sáng sớm hôm sau, bà “mẹ chiến sĩ” đã có hai đứa con đi nghĩa vụ quân sự, quá phẫn nộ và thất vọng, đã lập tức lên phường lớn tiếng chửi – tất nhiên chửi một cách có văn hóa. Bà khẳng định rằng gia đình bà đã đóng góp nhiều đứa con đi nghĩa vụ và TNXP và tham gia việc công đến mức như ngày hôm nay mà chính quyền phường vẫn dửng dưng, thiếu tin tưởng, còn sợ thằng con út của bà trốn nghĩa vụ, đến mức cho người đêm ngày canh trước canh sau như chực ăn trộm, thì… dẹp hết, bà không làm tổ trưởng, tổ triếc gì nữa hết, trả lại luôn cái bằng khen “gia đình vẻ vang” gì đó.

 

Đúng là tôi dở hơi, cứ đến tháng 12 hằng năm là cứ lãng đãng hồi tưởng – như một sự níu kéo vô vọng – tìm cách sống lại héo hon những kỷ niệm mờ nhạt về một quãng đời yên vui. Cứ sắp đến ngày 24 tháng 12 là tôi đi tìm lại hình ảnh hân hoan một thời thơ ấu, tóc xanh của mình cùng các bạn bè xưa cũ, mà không hề biết còn có ngày 22 tháng này run rủi lại rất cay đắng đối với người bạn thân thương.

 

Đến hôm nay, đã trôi qua nhiều tháng 12 kết thúc các năm cũ, ông già Noel đã bao lần tặng quà Giáng Sinh cho bọn trẻ con, và lần nào ông cũng nháy mắt, cười hẹn trở lại vào mùa hội vui năm tới nữa. Mơ ước thầm lặng của tôi vẫn là chúng ta có thể cùng nhau phục hiện và chia xẻ những niềm vui chan hòa mà tháng 12 trao tặng như ngày xưa, cùng phẩy phui những chuyện buồn nào đó nếu như chúng vô duyên xảy đến vào tháng cuối năm…

 

– Phạm Nga

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.