Hôm nay,  

Tuổi mười bảy

5/3/202220:21:00(View: 3893)

Truyện ngắn

girl-love-cartoon

 

Em mười bảy xinh đẹp, mộng mơ

Như vạt nắng dưới sân tình cờ

Có chàng đi qua bên cửa sổ

Rộn ràng em viết xuống thành thơ

(Kim Loan)

 

Đọc những dòng chữ trong cuốn nhật ký của con gái, lòng tôi khựng lại, bồi hồi. Chẳng phải vì tôi đang đọc lén. Cuốn nhật ký này, Amanda viết lúc nó đang học High School, hay nói chính xác hơn là năm học lớp Mười Một, tuổi mười bảy.

 

Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tiếp theo là sáu năm dài trên giảng đường Đại Học và hiện đang đi làm Registered Nurse hơn một năm nay, nó đã bỏ cuốn nhật ký học trò vào trong mấy thùng cartons chứa các tập vở, giấy tờ, tài liệu cũ và để dưới nhà kho basement, là nơi chúng tôi sẽ gom góp lại mang đi bỏ rác “recycle” mỗi năm khi xuân tàn chuẩn bị đón hè sang. Không biết nó cố ý hay vô tình để lạc cuốn nhật ký, nên tôi cầm lên xem và sẽ giữ lại giùm nó.

 

Đó là cuốn notebook xinh xắn màu hồng, có nơ nhỏ xíu ngoài bìa, tuy khá dầy nhưng nó chỉ viết vài chục trang. Mỗi trang có ghi ngày tháng nơi góc phải trên trang giấy, viết ra những vụn vặt linh tinh với bạn bè cùng lớp, với mấy đứa bạn gái thân quen mà tôi còn nhớ mặt nhớ tên. Nào là đi ăn kem với Paulette, cô bé người Việt dịu dàng cùng xóm. Nào là cãi nhau với Atoosa, cô bé “hoa khôi Iran” đẹp như người mẫu và thân nhất với nó. Nào là buổi chơi bóng chuyền tại trường vui nhộn. Nào là ba má mới mua cho nó chiếc xe đạp.  Đến mấy trang sau thì viết dài hơn, nhắc đến một nhân vật đặc biệt, dĩ nhiên là nó viết bằng English (vì nó chỉ biết nghe và nói tiếng Việt khá rành rẽ), tôi xin tạm dịch lại đại khái như sau:

 

“Anh Huy ơi! Vậy là hai đứa mình đã quyết định không gặp nhau. Không phải lỗi nơi anh, cũng không phải lỗi nơi em, chúng ta chẳng ai có lỗi, có chăng là không thể phù hợp nữa. Thời gian qua, những tháng ngày hai đứa mình dạy Giáo Lý có nhiều kỷ niệm. Em vẫn nhớ những buổi sáng mùa đông tuyết rơi ăn Pizza sau giờ dạy do Cha Xứ đãi. Em nhớ lần chuẩn bị cho tiệc Halloween, mấy đứa “học trò” nhí nhố dễ thương hết sức. Em nhớ… em nhớ nhiều lắm, và em biết anh cũng không quên. Nhưng có một chuyện, anh nhớ hay không: đôi giầy cao gót màu bạc có dát ánh kim lấp lánh của em mà anh đã cầm giùm em suốt đêm ca nhạc gây quỹ của giáo xứ. Đôi giầy đó, em vẫn đang giữ nó như một kỷ vật của tụi mình, ngay ngắn trong chiếc hộp trong phòng học của em đây…”

 

Huy và Amanda cùng trong nhóm thanh niên trẻ của giáo xứ, tình nguyện dạy Giáo Lý cho các em nhỏ trong nhà thờ sau mỗi Thánh Lễ Chúa Nhật. Lúc ấy Amanda mười bảy tuổi, còn Huy hơn nó bốn tuổi, đang là sinh viên năm thứ hai ngành Engineering. Một hôm về nhà nó nói với tôi:

 

– Mẹ ơi, anh Huy xin số phone của con, và con đã cho rồi, có được không mẹ?

 

Tôi cười với nó:

– Con đã cho rồi thì hỏi mẹ làm gì?

 

Nó hơi mắc cỡ:

– Tại vì dạy Giáo Lý chung với nhau mà không cho cũng kỳ sao á! Với lại, anh Huy có thể hỏi anh trưởng ban Giáo Lý số của con được mà.

 

– Mẹ đùa thôi, bạn bè trong xứ, trong trường lớp, ai hỏi số phone cũng được, có gì sai đâu nà!

 

Tôi cũng hiểu, ở lứa tuổi mười bảy là thời điểm bắt đầu có thêm mối quan hệ với các bạn khác phái là chuyện bình thường. Thế là hai đứa thân nhau, ngoài giờ dạy Giáo Lý, còn là những buổi đi Mall chơi, mua sắm, uống café. Có lần nó mang về khoe chiếc Starbucks Coffee Mug:

 

– Mẹ! Anh Huy tặng con cái mug này. Ảnh nói khi lên Đại Học con sẽ cần nó để uống café mỗi khi chạy đổi giờ trên giảng đường, nhất là khi trời đông lạnh.

 

Rồi nó để trên kệ sách, chưa dám xài đến, vì muốn để dành đúng lúc vào Đại Học như lời Huy dặn. Tình cảm tuổi mới lớn, mong manh như sương khói, dễ tan theo mây trời, rồi hai đứa chia tay. Nó buồn, nhưng tuổi trẻ cũng mau quên, trở lại hồn nhiên với bạn bè. Một buổi tối nó đưa tôi xem một tấm hình, là hình mấy đứa con gái trong nhóm múa của Nhà Thờ. Tôi nói:

 

– Mẹ nhớ đây là ngày văn nghệ gây quỹ, mẹ làm MC, mấy đứa con múa mở màn, đứa nào cũng xinh đẹp, phơi phới, cái tuổi mà không cần điểm phấn tô son vẫn đẹp rực rỡ.

 

Nó hồ hởi:

 

– Bữa đó sau khi múa xong, tụi con thấy còn sớm nên kéo nhau ra ngoài park chụp hình, anh Huy đi theo chụp cho cả nhóm. Được một lúc, chân con bị đau, sưng phồng lên vì mang giày cao gót chưa quen, con phải tháo ra. Vậy là anh Huy cầm giày của con đi theo tụi con cả buổi tối.

 

Rồi nó bật cười:

 

– Cũng may bữa đó mẹ có dư đôi dép nên sau đó con có dép mang, còn anh Huy để quên đôi giày của con trong xe của anh ấy khi chở tụi con về lại nhà hàng văn nghệ. Đến tuần sau đi dạy lớp Giáo Lý, anh bỏ đôi giày vào trong cái hộp thiệt đẹp, ảnh nói Cinderella làm rớt có một chiếc giày, còn con thì… cả đôi!

 

Thì ra đó là đôi giầy nó ghi trong nhật ký, “sẽ nâng niu kỷ niệm” ngày thơ. Tôi âu yếm nhìn con, rồi nhớ cái tuổi 17 của mình.

 

Mùa hè năm đó, trên đường đi học thêm về nhà, tới đoạn đường rầy xe lửa gần Ngã Năm trời đổ mưa tầm tã, bánh xe đạp của tôi trơn trợt trên đường rầy làm tôi té sấp xuống đường, môi sưng vù, máu me chảy khắp miệng và hai cái răng cửa bị bể. Ngày hôm sau anh tôi chở tôi đến một nha sĩ nổi tiếng ở Tân Định, kết quả là không cứu vãn nổi, đành giữ lại chân răng còn tốt, rồi khoan ốc vít gắn hai cái răng (giả) vào. Thuở ấy, kỹ thuật nha khoa ở Việt Nam chưa tiến bộ, họ không có răng tạm thời cho mình trong thời gian chờ đợi, nên tôi phải chịu hai tuần lễ trống hai răng cửa (“hàng tiền đạo” bỏ ngỏ). Trong xóm có anh chàng để ý tôi nhưng chưa bao giờ dám bày tỏ, nhà chàng ở cạnh nhà nhỏ bạn thân của tôi, chắc nhỏ "thèo lẻo" chuyện tôi “bị nạn”, chàng liền lấy hết can đảm đến nhà sau khi uống hết một lon bia (sau này nhỏ kể tôi nghe thế). Tôi ra mở cổng, phải mỉm cười... e lệ bất đắc dĩ để che đi sự trống vắng của hai chiếc răng cửa (hồi đó chưa có khẩu trang thông dụng như bây giờ). Anh ấy nói:

 

– Nghe tin em bị ngã đau lắm nên anh đến thăm.

 

Tôi vờ vĩnh để ngón tay trỏ lên môi… làm dáng và đáp lí nhí:

 

– Dạ cám ơn anh, mà anh về đi, miệng em đang đau không muốn tiếp ai hết á!

 

Chàng năn nỉ:

 

– Anh chỉ muốn vào nhà nói chuyện với em một chút, mười phút thôi, nhé?

 

Không thể dùng dằng nơi cổng, sợ hàng xóm nhìn thấy “dị òm”, tôi đành mở cổng mời anh vào. Suốt buổi nói chuyện, tôi luôn là người lắng nghe anh nói, thỉnh thoảng điểm thêm nụ cười mỉm và khi cần nói lại để bàn tay che miệng, nói lí nhí anh càng tưởng tôi đang cảm động, đang bối rối nũng nịu điệu đàng làm duyên làm dáng với anh.

 

Khi chia tay tôi ra về, anh chàng hồ hởi sung sướng lâng lâng như bay trên chín từng mây, vội về vườn sau nhà hái một rổ mận sọc, nhờ đứa em mang đến cho tôi, cây mận nhà anh ấy nổi tiếng sai trái, ngọt lịm. Tôi đã ăn hết sạch rổ mận trong một buổi chiều (dù thiếu… hai cái răng), còn tình của người ta thì tôi không đáp lại.

 

Dù sao, con gái tôi còn có cái coffee mug và đôi giày kỷ vật, còn tôi chỉ có giỏ mận mà tôi đã… ăn hết từ lâu. Riêng đôi giày đó, với ngần ấy thời gian, với mấy mùa “cleaning đầu hè”, với lần dọn từ căn nhà cũ qua căn nhà mới hiện nay của gia đình tôi, đôi giày cũng không còn nữa (tình cảm đầu đời như chiếc lá thu phai). Nhưng có điều chắc chắn, là đôi giầy của nó, cũng như giỏ mận của anh hàng xóm của tôi, vẫn còn mãi trong ký ức long lanh của tuổi 17 ngọt ngào.

 

Đẹp như một giấc mơ!

 

Kim Loan

 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.