Hôm nay,  

Tôi là cái thây ma

18/11/202200:00:00(Xem: 2862)

 

Ferit
Nhà Văn Thổ Nhĩ Kỳ FERIT ORHAN PAMUK và cuốn sách của ông.

 

FERIT ORHAN PAMUK (sinh 1952) là nhà văn danh giá nhất của xứ Thổ Nhĩ Kỳ thời hiện đại. Năm 2006, ông trở thành nhà văn đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ được trao giải Nobel Văn chương. Tác phẩm của ông được dịch ra 63 ngôn ngữ, phát hành trên 13 triệu ấn bản và được cả thế giới đón đọc. Ông dạy kỹ thuật viết văn và Văn học Tỉ giảo tại đại học Columbia, New York. Năm 2018, ông được bầu vào Hội Triết học Hoa kỳ. Trích đoạn dưới đây là từ tác phẩm My Name is Red (Tên tôi là Đỏ), tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, đã đoạt những giải thưởng danh dự sau: Prix du Meilleur Livre Étranger (2002); Premio Grinzane Cavour (2002); và International Dublin Literary Award (2003).
   

Không có nhân vật chính diện nào trong tác phẩm tiểu thuyết này của Pamuk, mà là một tập hợp những nhân vật và đồ vật – một cái thây ma mới bị giết oan uổng, một đồng tiền, ác quỷ Satan, màu đỏ, hai chức sắc Hồi giáo, v.v… – mỗi “thứ” như thế chiếm phần tự sự mỗi chương sách. Bối cảnh lịch sử là Đế quốc Ottoman thế kỷ XVI, và nền tảng triết học Hồi giáo dĩ nhiên là trọng điểm của cuốn tiểu thuyết, nhưng cũng có những phân đoạn thấm đẫm tính kỳ bí và trữ tình. Đọc tác phẩm, độc giả người Việt có thể nhận ra một điểm tương đồng giữa Hồi giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam là, sau khi chết, linh hồn con người vẫn tồn tại trên thế gian và có thể nghe ngóng những gì người sống nói.
   

Kỹ thuật viết văn của Orhan Pamuk có thể được xem là chịu ảnh hưởng Jorge Luis Borges, lối viết siêu hư cấu, với những ý thức thường xuyên nhắc nhở người đọc rằng hắn đang đọc một tác phẩm hư cấu. (TYT).
 

Giờ đây tôi chỉ còn là cái thây ma, cái xác chết nằm dưới đáy giếng. Mặc dù tôi hít vào hơi thở cuối cùng cách đây khá lâu và tim tôi đã ngừng đập, không ai, ngoại trừ tên sát nhân đê tiện đó, hay biết chuyện gì xảy đến cho tôi. Cái thằng khốn kiếp, gã bấm mạch tôi, nghe ngóng hơi thở xem tôi còn sống hay thật sự chết rồi, đoạn gã đá vào bụng tôi, lôi tôi lại bờ giếng, nhấc tôi lên rồi ném tôi xuống đáy giếng. Trong lúc rơi xuống, đầu tôi, cái đầu bị gã dùng tảng đá nện vỡ, bứt lìa khỏi thân mình; mặt tôi, trán, hai má nát ngướu, xương trong người gãy vụn, và miệng thì đầy máu.
   

Suốt gần bốn ngày trời tôi mất tích: Vợ con tôi chắc hẳn đang bổ ra đi tìm tôi; con gái tôi, kiệt lực vì khóc, chắc đang ném cái nhìn lo âu ra ngoài cổng. Vâng, tôi biết tất cả mọi người trong gia đình tôi đang ngồi bên cửa sổ, chờ đợi tôi về nhà.

   
Nhưng có thật gia đình tôi đang chờ tôi không? Ngay cả chuyện đó tôi cũng chẳng lấy gì làm chắc chắn. Biết đâu mấy người đã quá quen với cảnh tôi vắng nhà – thật đáng buồn! Bởi nơi đây, nơi bến bờ bên kia, người ta có cảm tưởng như kiếp trước mình vẫn đeo đẳng khôn rời. Trước khi tôi ra đời, thời gian dài vô tận, và sau khi tôi chết, thời gian chẳng bao giờ chấm dứt. Trước đây tôi chẳng bao giờ nghĩ vậy: tôi sống một đời sống sáng láng lèn giữa hai vùng miên viễn của bóng tối thâm đen.

   
Thuở đó tôi hạnh phúc lắm; bây giờ tôi mới nhận ra tôi đã sống cuộc đời thật hạnh phúc. Tôi là tay minh họa giỏi nhất trong xưởng in Quốc Vương Ta; tài nghệ tôi không ai sánh kịp. Qua công việc làm tư, mỗi tháng tôi kiếm chín trăm đồng quan bạc, và điều này chỉ khiến nỗi đau đớn trong tôi tăng bội phần.

   
Trong xưởng in, tôi phụ trách phần minh họa. Tôi vẽ lên rìa trang sách những hình ảnh sống động nhất, lá cành, hoa bướm, chim muông. Tôi vẽ mây kiểu Trung hoa trông như con sò biển, tôi vẽ những rặng nho lớp lớp chất chồng, và những rừng màu sắc ẩn giấu hươu nai, lũng trảng, vua chúa, cây cối, lâu đài, ngựa và thợ săn. Thuở còn trẻ, tôi cũng tô vẽ dĩa ăn, mặt sau gương soi, hòm gỗ, hoặc đôi khi trần nhà một dinh thự, đại sảnh Bosphorus, hoặc một cái thìa gỗ. Tuy thế, những năm về sau, tôi chuyên chú vào việc vẽ bản thảo vì xưởng Quốc Vương Ta trả lương hậu hĩ cho công việc này. Tôi không thể bảo điều đó giờ đây có vẻ tầm thường quá. Bạn biết giá trị đồng tiền ngay cả sau khi bạn qua đời.

   
Sau khi nghe ra phép nhiệm màu của giọng nói tôi, có lẽ bạn sẽ nghĩ, “Ai thèm để ý đến chuyện ông làm bao nhiêu tiền lúc còn sống? Hãy nói cho chúng tôi nghe những gì ông chứng kiến. Có thật có đời sống sau khi chết? Linh hồn ông trôi về đâu? Thiên đường và địa ngục? Thế nào là chết? Ông có đau đớn không?” Bạn đúng đấy, con người ai cũng vô cùng tò mò, muốn biết về cái Kiếp Sau. Có lẽ bạn từng nghe câu chuyện kẻ bị tính tò mò đó thôi thúc đến nỗi gã chạy quàng xiên giữa đoàn quân đang giao tranh ngoài chiến địa. Giữa những vũng máu của đám quân lính bị thương đang bám víu lấy sự sống, gã sục sạo cố tìm ra kẻ chết đi sống lại, một người lính có thể kể lại những bí mật của thế giới bên kia. Nhưng một chiến sĩ phe Tamerlane, lầm tưởng gã là quân địch, vung nhát kiếm sắc lịm bổ dọc gã làm đôi, khiến gã đi đến kết luận rằng ở Kiếp Sau con người bị chẻ làm đôi.

   
Thật tầm bậy! Ngược lại là đằng khác, tôi có thể minh chứng linh hồn bị chia cắt lúc còn sống sẽ được tái nhập ở Kiếp Sau. Trái với những gì bọn vô đạo đầy tội lỗi bị Quỷ nhập phán bảo, quả có thế giới khác, đội ơn Thượng đế vô cùng, và bằng chứng là từ nơi đây tôi đang chuyện trò cùng bạn. Tôi chết rồi, nhưng như bạn thấy rõ ràng tôi vẫn hiện hữu. Được rồi, tôi đành thú nhận rằng tôi vẫn chưa nhìn thấy dòng sông chảy bên cạnh đền đài vàng bạc của Thiên đường, vẫn chưa thấy hàng cây với tàn lá rộng trĩu nặng mận ngon, và vẫn chưa thấy trinh nữ nào như điều ghi chép trong quyển kinh Koran Sáng Láng – mặc dù tôi nhớ rất rõ không biết bao lần tôi say sưa tô điểm những nàng tiên nữ mắt mở lớn miêu tả trong chương “Cái Đang Đến.” Cũng chẳng có dấu vết gì của những dòng sông sữa, rượu, nước trong và mật ngọt cuộn chảy, miêu tả đầy văn hoa, không phải trong kinh Koran, mà bởi những tâm hồn mơ tiên như Ibn Arabi. Nhưng chủ đích của tôi không phải thách đố lòng tin những ai sống đời sống công chính qua hy vọng và cái nhìn của họ về Thế Giới Bên Kia, vì thế hãy để tôi dõng dạc lên tiếng rằng tất cả những điều tôi trông thấy chẳng qua chỉ là cái gì liền lạc với cảnh huống rất riêng tư của tôi. Bất kỳ tín đồ nào, ngay cả người hiểu biết rất ít ỏi về cõi đời sau, cũng biết rõ kẻ bất mãn trong trạng huống như tôi đều cố sức tìm cách trông thấy dòng sông trên Thiên đường.

   
Nói tóm lại, tôi, người được mệnh danh là Thầy Effendi Thanh Lịch, đã chết, nhưng tôi chưa bị chôn vùi vào hư vô, vì thế linh hồn tôi chưa rời khỏi thân xác. Cảnh huống vô cùng kỳ diệu này, mặc dù trên đời không phải lần đầu xảy ra, đã gây nên nỗi đau đớn vô biên cho phần hồn bất tử trong tôi. Mặc dù thân xác tôi chẳng còn cảm giác gì nữa, xương sọ vỡ nát, thịt da đầy thương tích đang thối rữa dần, xương trong người gãy vụn và nước giếng lạnh như nước đá ngập gần kín người, tôi vẫn cảm thấy nỗi thống khổ sâu thẳm của linh hồn tôi, nó đang cố hết sức vùng vẫy trong tuyệt vọng mong thoát ra khỏi phần thân xác. Tưởng như cả thế gian này, kể cả thân xác tôi, đang co rút lại thành khối đặc khổ não.

   
Tôi chỉ có thể so sánh sự co rút này với cảm giác giải thoát lạ lẫm tôi cảm thấy trong lúc đón nhận cái chết. Vâng, tôi hiểu ngay tên khốn kiếp đó muốn giết tôi khi bất ngờ gã cầm tảng đá đập vỡ xương sọ tôi, nhưng tôi không tin gã có thể tiếp tục ra tay hoàn tất những gì sau đó. Đột nhiên, tôi nhận ra tôi là người hy vọng, một điều tôi không hề hay biết khi còn sống dưới bóng mát con đường từ xưởng vẽ về nhà. Bằng tất cả ý chí, tôi bám víu vào sự sống, móng tay tôi, ngón tay tôi, hàm răng tôi, cắm sâu vào da thịt tên sát nhân. Tôi sẽ chẳng để bạn nhàm chán với chi tiết những cú đánh, cú đập chí tử tôi nhận lãnh sau đó.

   
Trong lúc lãnh chịu nỗi đau đớn tột đỉnh này và tôi biết tôi sẽ chết, cảm giác như đang được giải thoát thật lạ lùng bỗng xâm chiếm tâm hồn tôi. Tôi cảm thấy như vậy trong lúc thăng thoát; chuyến đi của tôi sang bến bờ bên này thật êm ái, dễ chịu, như trong giấc mơ nhìn thấy chính mình đang ngủ. Đôi giày lấm đầy tuyết và bùn của tên sát nhân là hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy. Tôi nhắm mắt lại như thể tôi sắp ngủ, và tôi nhẹ nhàng chết.

   
Tôi than thở bây giờ chẳng phải vì răng tôi rụng như đống đinh ốc trong miệng đầy máu, chẳng phải vì mặt tôi nát ngướu không còn ra hình thù gì, cũng chẳng phải bởi tôi bị bỏ rơi trong lòng cái giếng sâu này – mà bởi mọi người nghĩ tôi còn sống. Linh hồn khốn quẫn của tôi cứ day dứt mãi khi nghĩ gia đình tôi và những người thân quen – vâng, họ thường xuyên nghĩ đến tôi – tưởng tượng tôi đang bận dăm ba việc lặt vặt ở Istanbul, hay cũng có thể đang chạy theo tán tỉnh mụ đàn bà nào khác. Đủ rồi! Hãy lập tức đi tìm xác chết tôi, hãy cầu nguyện cho tôi và cho tôi một nấm mồ. Quan trọng hơn hết, hãy tìm ra kẻ giết tôi! Bởi ngay cả nếu tôi được chôn cất tử tế, mồ yên mả đẹp, mà tên giết người đó vẫn ung dung tự tại ngoài đời thì tôi sẽ trăn trở không ngừng dưới đáy mộ, đợi chờ, và gieo mầm độc vô đạo lên tất cả mấy người. Hãy tìm ra tên sát nhân chó đẻ đó và tôi sẽ kể mấy người nghe những gì tôi trông thấy ở Kiếp Sau – nhưng hãy biết thêm điều này, khi bắt được gã, phải tra tấn gã bằng cách đập từ từ đến nát ngấu tám hay mười khúc xương của gã, tốt nhất là xương sườn, dùng kềm vặn mà bẻ, sau đó hãy đâm thủng da đầu gã bằng những mũi kim sắt nhọn người ta chuyên dùng trong việc tra tấn, rồi nhổ từng sợi tóc ghê tởm bê bết dầu của gã cho gã thét lên từng hồi.

   
Tên sát nhân làm tôi khổ sở dường vậy là ai? Tại sao gã thình lình giết tôi chết? Hãy chú tâm và để ý những dữ kiện như vậy. Bạn chẳng bảo thế gian đầy dẫy những tên tội phạm bất hảo chuyên hãm hại người lành đấy ư? Không chừng chính tên này là thủ phạm, biết đâu tên kia? Trong trường hợp đó, hãy cho tôi nhắc chừng bạn: Cái chết của tôi che đậy một âm mưu kinh khiếp chống phá tôn giáo, cắt đứt truyền thống của chúng ta, ngăn trở cách thế chúng ta nhìn vào thế giới. Hãy mở mắt cho to, hãy nhìn ra lý do vì sao kẻ thù của kiếp sống bạn đang tin tưởng, của cuộc đời bạn đang sống, và của tôn giáo bạn đang tôn thờ, lại giết chết tôi. Hãy tìm ra lý do vì sao một ngày kia chúng sẽ làm điều đó với bạn. Lần lượt, tất cả những gì tiên đoán bởi nhà truyền giáo đại tài Nusret Hoja của miền Erzurum, người tôi chảy nước mắt khi nghe nói chuyện, đều trở thành sự thật. Hãy cho tôi nói thêm giả như cảnh huống chúng ta đang lâm vào đó được miêu tả trong một quyển sách thì ngay cả người tế họa tài ba nhất cũng chẳng bao giờ hy vọng có thể minh họa nổi. Với quyển kinh Koran – đó là ý Trời nếu tôi bị hiểu lầm – một quyển sách như vậy hàm chứa sức mạnh vô song chỉ vì không ai có khả năng miêu tả được nó. Tôi không chắc bạn thấu triệt được điều này.

   
Hãy nghe tôi nói đây. Hồi mới ra ràng, tôi cũng ôm ấp nỗi sợ hãi và vì thế tôi giả lờ như không biết đến sự thật cơ bản và những tiếng nói vọng về từ cõi xa xăm. Tôi còn đem mấy chuyện đó ra bông đùa. Nhưng cuối cùng tôi bỏ xác dưới đáy giếng thảm hại này! Coi chừng, có ngày bạn cũng bị như vậy đấy. Giờ đây, tôi chẳng biết làm gì hơn ngoài hy vọng xác thân tôi sẽ tan rữa thật kỹ và bốc mùi hôi thối để người ta tìm ra tôi. Tôi chỉ còn biết hy vọng như vậy thôi – và tưởng tượng cảnh tên sát nhân bị tra tấn như thế nào sau khi có người lương hảo nào đó tóm được gã.

 

Orhan Pamuk

Trịnh Y Thư dịch

 

(Trích đoạn tiểu thuyết My Name is Red, NXB Alfred A. Knopf, 2001.)

 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.