Hôm nay,  

Tôi đi buôn

27/12/202312:37:00(Xem: 3634)


CHO-CHOM-HOM

Hè năm ấy tôi dấn thân vào một việc mà kể từ nhỏ tới lớn tôi chưa từng làm. Dĩ nhiên là không có tý kinh nghiệm nào và vô cùng mạo hiểm. Nhưng người xưa có câu “đói thì đầu gối cũng phải bò”. Thôi kệ phải liều, biết đâu “không thành công, cũng thành nhân”. Sống là trải nghiệm mà.
    Tôi xuất thân nghề giáo vào những năm của thập kỷ 80-90. Trong thời kỳ bao cấp, lương khởi điểm theo 3 mức cho 3 cấp học như sau: 50 đ 55 đ, và 60 VN đồng. Giai đoạn khó khăn chung của đất nước, đồng lương không đủ sống. Ra trường một vài năm, đến lúc cũng phải lập gia đình và sinh con. Món nợ cơm áo lúc này càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Cuộc sống bấy giờ không chỉ có mây bay gió lượn mà có bộn bề trăm thứ bủa vây. Làm thế nào để trang trải cuộc sống và lo được cho con cái? Đó là câu hỏi đặt ra cho bất kỳ ai, không cứ kể là dân sư phạm mà kể cả nhiều ngành nghề sự nghiệp hành chính khác. Những người đồng nghiệp xung quanh chúng tôi, mỗi người có một lựa chọn khác nhau. Ai nhảy việc thì nhảy. Ai yêu trường mến lớp thì trụ lại trên bục giảng nhưng về nhà phải kiếm việc làm thêm. Hồi đó tuyệt đối không dạy thêm, nếu có dạy thì dạy miễn phí. Thế là có nhiều cô giáo thì về làng làm thêm ruộng vườn, chăn nuôi. Có người thì đi bỏ bia, bỏ kẹo mối. Có người đi bán xôi sáng dậy từ lúc 3 giờ sáng nấu xôi đem đi bán. Đến 7 giờ xong hay không xong cũng vội về để đi dạy.
    Năm ấy nghỉ hè (thời đó nghỉ hè 3 tháng) cùng với chị bạn hàng xóm đang thất nghiệp, hai đứa rủ nhau đi buôn. Hành trình đi là vào chợ Cồn (Đà Nẵng) nhập các loại thủy hải sản khô như cá khô, tôm khô… và đường bánh (đường nấu từ mía và đúc thành từng bánh như cái chén ăn cơm) đem ra bán ở chợ huyện của một thị trấn, địa điểm này cách Huế hơn 250 km về phía bắc. Ý định vừa đi vừa thăm dò thị trường xem chợ huyện đó những mặt hàng nào cần thiết sẽ nhập sau.
    Hai chị em đi chợ Cồn đóng hàng rồi thuê xe chở ra ga Đà Nẵng để đi tàu ra chợ thị trấn đó bán xong rồi mới quay về Huế. Lần đầu dấn thân vào công việc lạ lẫm, va chạm nhiều hạng người: dữ có, hiền có, thanh có, thô có. Thôi thì đủ loại người trên đời. Nên cũng vỡ ra nhiều điều trên một đoạn đường đời mà trong sách vở nhà trường chưa được đề cập đến.
    Trước tiên kể về trải nghiệm đi tàu. Vào những năm 80    – 90 của thế kỷ trước, tàu chợ không khác gì cái tên gọi của nó. Toa nào toa nấy, người và hàng hóa kể cả gà vịt heo chó chen chúc nhau không có thứ lớp, trật tự gì hết. Mạnh ai nấy chen. Người ngồi, kẻ nằm la liệt ngổn ngang. Người thì nằm trên các bao hàng chông chênh, người thì trải chiếu thò chân vào dưới gầm ghế, đầu nhoài ra ngoài lối đi. Có người mắc võng từ cửa sổ này sang cửa sổ khác chiếm cả một khoảng không không gian hiếm hoi, ngay trên đầu, trước mặt hành khách. Dù chẳng ai muốn nhưng cũng phải chấp nhận vì trong hoàn cảnh này thì ai ngồi được đâu cứ ngồi, ai nằm được đâu cứ nằm. Tàu quả là chật như nêm. Có người bước lên tàu chỉ đứng được một chân vì hết chỗ. Có người phải đu bám ở cửa lên xuống, có người đứng ở chỗ nối toa, thậm chí có nhiều người leo lên ngồi, nằm trên nóc tàu, bất chấp nguy hiểm. Ai đi tàu lúc này cũng bầm giập tả tơi như vậy cả. Đã thế, lâu lâu tàu lại trở chứng bị chết máy bất thình lình hoặc tránh tàu có khi cả vài tiếng đồng hồ là chuyện thường. Có khi đi khoảng vài ba trăm km mà phải đi ba ngày mới tới nơi.
    Hành khách trên tàu ngủ gà ngủ gật, phờ phạc, tả tơi. Nếu chịu khó quan sát thì cũng khối chuyện bi hài vui phải biết. Đêm xuống, tàu không có điện. Người nằm ngủ, trở mình nghiêng qua, nghiêng lại ôm trúng cái mông của bà khách đang ngủ say, ông ta tưởng mình ôm cái gối sao nó êm quá là êm. Người khách khác làm nghề buôn heo nằm trở đầu lại cũng đang yên giấc điệp, bị bà buôn gạo nằm kế bên gác nguyên cái đùi to chà bá lửa lên ngực anh ta. Anh lái heo ngủ say, hai tay chới với và ú ớ gì trong miệng. Trong cơn mơ anh tưởng trời sập và mình bỗng trở thành anh hùng, đang ra sức chống đỡ trời lên chẳng khác nào “đội đá vá trời” trong thần thoại. Có người đang ngủ say quá mà buồn tiểu lại mơ là mình đang đứng bên bờ suối, gió mát hây hây, chim kêu vượn hú thế là cứ mở van cho nước chảy róc rách. Đến lúc nghe mùi khai bốc lên, mọi người mới tá hỏa ra và hô hoán lên là có người đái dầm.
    Trên ghế ngồi dựa lưng vào thành tàu, mọi người cũng đang thiu thiu ngủ. Một quý ông (trạc tuổi khoảng ba mươi) khuôn mặt cũng lịch lãm, trí thức nhưng đi tàu vậy nên cũng te tua mệt mỏi lắm! Ông ngả đầu ngủ, tàu lắc lư, ông nghẹo đầu qua một bên, nghẹo dần, nghẹo dần đến lúc đầu ông nghiêng hẳn lên vai cô gái ngồi kế bên. Thấy vật gì đè nặng trên người mình, cô chợt thức giấc và như chợt hiểu ra, cô vội xô anh ta về đúng chỗ anh ta rồi mắng: “Anh ngủ gì mà kỳ vậy?” Anh ta tỉnh giấc và rối rít xin lỗi.
    Đi bầm giập te tua vậy rồi cũng tới nơi. Buổi sáng, xuống ga thị trấn X, sau khi khệ nệ bưng những bao hàng xuống, hai đứa đang đứng thở, nghỉ ngơi lấy sức thì bỗng một nhóm người mặc áo thuế vụ vẻ mặt đằng đằng sát khí tới “hỏi chuyện”. Khi đó cảm giác rất sợ, mặt lúc này chắc là xanh ngắt như tàu lá chuối. Tim đập hồi hộp lòng đầy lo lắng vì nếu bị tịch thu thì kể như mất vốn luôn! Thuế vụ tra vấn một hồi, không nhớ diễn biến chi tiết mình đã đối phó thế nào và xoay xở ra sao nhưng cuối cùng sau khi quần thảo khủng bố về mặt tinh thần rồi cũng được thả cho đi. Tụi mình gọi người tới chở vào chợ thị trấn bằng các phương tiện như xe kéo, hoặc xe đạp thồ tại địa phương.
    Vào đến chợ, sau khi tìm chỗ ngồi thuận lợi, dọn hàng ra để trưng bày sao cho bắt mắt và việc mua bán diễn ra thuận lợi, lác đác đã có khách tới mua hàng. Hai đứa bắt đầu “sự nghiệp bán hàng” lần đầu tiên trong đời, trước đó có quan sát chị bán hàng sỉ và lẻ trong chợ Cồn rồi nên cũng có học hỏi kinh nghiệm. Công việc diễn ra thuận lợi, nhưng cũng có trường hợp này ứng với một câu nói của dân gian, “chó ỷ tại nhà, gà ỷ tại chuồng” không phải không xảy ra. Có chị khách cỡ trạc tuổi mình, vừa cắp chiếc rổ tới, chưa mua nhưng đã hăm he phủ đầu một câu rằng: “Hai cái con Huế này, cân kéo cho đúng không thôi tau thu cân đi nghe chưa!” Mình không nói chúng mình từ đâu tới nhưng chắc có vẻ thấy lạ và nghe giọng nói cũng như cách ăn mặc nên chị ấy đoán thế!
    Chị bạn mình nói:
    – Ê cho đính chính chút: Đây sống ở Huế nhưng gốc Bắc và Huế lai thôi! chứ Huế rặt ai thèm lặn lội đi bán đồ khô như tụi này. Họ có bán là bán vàng kìa! Ke ke! Thôi giờ mua gì nào, cân giáp cho, bán để làm quen thôi! Giao dịch trôi chảy, thuận lợi!
    Việc bán hàng diễn ra trong ba ngày thì giải quyết hết hàng. Về phòng trọ hai đứa giở sổ sách ra tính toán lại thì thấy có lời chút đỉnh, sau khi trừ mọi chi phí. Lần đầu lấn sân sang lĩnh vực không qua đào tạo, không thuộc chuyên môn của mình nhưng như vậy cũng có thể gọi là thành công bước đầu. Tụi mình vừa đi vừa học hỏi và dò đường đi nước bước. "Vạn sự khởi đầu nan" và tự an ủi nhau vậy là “gioải rồi”. Hai đứa lòng cũng thấy vui, và tiếp tục sự nghiệp nhỏ lẻ của mình thêm vài chuyến nữa tại chợ này. Một hôm xong việc hai đứa bàn nhau nhảy tàu ra Vinh xem sao? Thế là mấy chuyến sau đi thẳng ra chợ Vinh dài đường hơn (Huế-Vinh 367 km) nhưng bán được hàng nhiều hơn và nhanh hơn. Xem lại các chuyến thì có nhiều chuyến lời, tuy vậy cũng có chuyến ngang vốn có khi còn lỗ chút ít nếu gặp không may. Tổng kết lại toàn bộ sự nghiệp buôn bán ba tháng hè, trừ các chi phí cũng có đồng ra đồng vào trang trải thêm cho cuộc sống và đặc biệt đời dạy cho khôn ra đôi chút. Đó cũng là học phí cần phải trả cho cuộc đời.
Kết thúc ba tháng hè, tôi trở lại trường làm công việc chính của mình, cô hàng xóm không có người đi cùng nữa cũng buồn nên nghỉ buôn chuyến mà về làm tiểu thương chợ Phú Bình thuộc phường Phú Bình với căn hàng cố định kiếm sống qua ngày đủ nuôi con ăn học. Còn tôi ngoài công việc chính thì chợ đò cơm nước, chăm con và tranh thủ ngoài giờ làm thêm một số việc khác. Như về chợ Phú Bình (trên đường Đào Duy Anh, Huế) bán trái cây, khi thì lấy bia của anh chị Diên ở bên nam sông Hương ra bỏ mối cho 5 quán nhậu ngoài thị trấn Phò Trạch, Phong Điền. Việc buôn bán xem như thời vụ thôi, thời gian diễn ra không lâu. Như vậy nếu vận dụng câu nói của dân gian gian “Trời sinh voi, sinh cỏ” có phần đúng và cũng có phần chưa đúng, chỉ là câu nói gieo niềm lạc quan mà sống chứ thực sự mọi cá nhân đều phải nỗ lực để vượt qua. Trải qua thăng trầm dâu bể cuộc đời với không ít gian nan như vậy, thế rồi gia đình của tôi cũng vượt qua giai đoạn khó khăn chung của đất nước, hậu chiến và thời bao cấp.
    Nay các con đã đi làm và tự lo được cho mình.
    Có lẽ ai trong cuộc đời cũng phải đi qua phù trầm dâu bể với bộn bề cuộc sống không nhiều thì ít, nhất là trong giai đoạn khó khăn chung của đất nước. Hôm nay hồi ức ùa về, nhìn lại một chặng đường đã qua không ít gian nan, ngẫm lại cũng thầm tự phục mình ừ cũng kiên cường đấy nhỉ! Không tệ phải không?
    Bây giờ chỉ mong mọi người sức khỏe và bình yên!

 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.