Hôm nay,  

Từ cây mít bên mép hố bom

12/01/202400:00:00(Xem: 3743)

goc mit
 
Mấy cái rễ chết khô này là những gì còn lại của cây mít mà tự tay tôi trồng mấy chục năm trước, bên mép một hố bom. Chúng đã theo tôi qua chặng hành trình hơn bảy ngàn cây số từ một vùng quê Quảng Nam đến thành phố lớn nhất của nước Úc.

Thời chiến quê tôi là vùng đất không người và, có lúc, là vùng “tự do oanh kích”. Trở về đó sau tháng Tư năm 1975, khu vườn xưa của tổ tiên đã là một cái rừng rậm, màu xanh chồng lên màu xanh, mấy tầng, mấy lớp với những táng cây cao thấp chằng chịt dây leo, những chùm chìm bìm phủ từ trên xuống và những bụi đơm xôi đầy gai góc cố thủ bên dưới chờ chực cơ hội ngóc đầu lên, chỉ trừ màu đất sét đỏ quạch của cái hố bom sâu hoắm ở góc vườn, dấu tích của một trận oanh tạc cách đó ba năm, trong “Mùa hè đỏ lửa”.

Rồi thì cái hố ấy cạn dần. Đầu tiên là ngói gạch vỡ vụn từ căn nhà cũ đổ nát của tổ tiên mà anh chị em chúng tôi san xuống, sau đó là đất cát bồi tụ theo từng mùa mưa rồi, đến một lúc nào đó, khi cái hố bom đã đầy gần phân nửa, tôi ươm mấy hạt mít chung quanh để từng ngày, từng ngày, chứng kiến chúng nẩy nở, sinh sôi. Mấy năm sau, khi tôi đi xa hẳn, những cây mít ở lại bắt đầu kết trái rồi, mấy năm sau nữa, khi em tôi vào Sài Gòn lập nghiệp, gởi khu vườn cùng căn nhà làm nơi thờ tự trong bàn tay chăm sóc của một người bà con, chúng vẫn kiên trì bấu rễ vào cái hố bom mà ra hoa, cho quả.

Nhưng một thời gian sau nữa, cách đây mấy năm, cây mít của tôi bị bức tử, chết khô.

Nhưng nó không hề đơn độc. Cùng chung phần số là nguyên một hàng cây cao lớn, mạnh khỏe dọc theo ranh giới với khu vườn hàng xóm mà, theo giải thích của những người ở đó, là sự cạnh tranh ánh sáng của trời cùng dưỡng chất của đất từ bàn tay chủ nhân khu vườn liền kề, cái sự cạnh tranh vẫn đều đặn xảy ra ở miền quê thời này bởi thuốc độc giết cây của Trung Quốc đang bán ê hề ngoài chợ.

Tôi nghe lời giải thích này này hai năm trước, khi về quê chịu tang mẹ. Dưới những hạt nước bay bay của cơn mưa phùn tiết Xuân phân trong một chiều nhá nhem tối, tôi đứng ở góc vườn lặng nhìn những cái rễ mít chết khô lầm lũi an phận dưới cái hố bom đã cạn mà thảng thốt nhìn ra bóng dáng khẳng khiu của mình mấy chục năm trước, đang chênh vênh bên bờ mép nghiêng 45 độ của cái hố bom đỏ quạch màu đất sét, cái lưng khòm xuống, cái xẻng cùng mấy hạt mít trong tay… Ngay khoảnh khắc đó tôi nảy ra quyết tâm là, bằng mọi giá, phải mang chúng theo như một chứng vật lịch sử của riêng mình, dạy cho con tôi biết rằng đây là những cái rễ từ cây mít mà tự tay ba đã trồng. Tôi nhễ nhại mồ hôi lôi lên mặt đất. Tôi kỳ cạch rửa ráy, đẽo gọt. Rồi tôi nhờ một người thợ mộc can thiệp lần cuối trước khi sấy khô, tẩy trùng để có thể vượt qua hàng rào kiểm dịch của nước Úc.

Tôi kỳ công như thế bởi đó không chỉ là chứng vật của riêng tôi mà là chung của tất cả chúng ta. Từ dấu tích hoang tàn của sự hủy diệt bằng sức mạnh của một đế quốc, một siêu cường, cây mít đã vươn lên mạnh mẽ, đã đâm chồi kết trái nhưng rồi lại chết đứng giữa trời, như là Từ Hải, chỉ vì thuốc độc của giống bành trướng đang hung hăng háu đá như một thứ chuẩn siêu cường tập tành làm đại đế quốc.

Nếu lịch sử là chuyện đã qua thì chứng vật cho một chặng đời của tôi này còn có thể là “tương lai” của chúng ta, những người cùng chia sẻ cái “đại tự sự” kết tụ từ muôn vàn những câu chuyện lớn nhỏ khác nhau; từ huyền tích trăm trứng trăm con để gọi nhau là “đồng bào” đến những câu chuyện thấp thoáng bóng dáng lẫm liệt của Lữ Gia, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung v.v khi những bậc anh hùng dân tộc này phản ứng trước sức ép của bọn xâm lược phương Bắc.
 
Mà đâu chỉ là những cây xanh, với cái bọn xâm lược này? Cả những con giun hiền lành, an phận thủ thường cày cuốc trong lòng đất cũng bị chúng lập mưu để tàn sát hàng loạt thì đây, rõ ràng, là một sự “truy sát” đối với tương lai. [1]
 
Bởi vậy, từ cây mít, con giun, tôi lại nghĩ về loài nai.

Nai là một trong những nguồn thức ăn ưa chuộng của loài hổ và, sau hàng ngàn năm tiến hóa, chúng vẫn tiếp tục ngờ nghệch làm mồi như một sinh vật mù màu, không nhận ra được màu xanh và đỏ. Dưới mắt nai, cây rừng xanh và da hổ nâu đã hòa lẫn vào nhau trong sắc xám nên, không cần phải ngụy trang, giống hổ chỉ cần bước khẽ và, đợi đến khi xáp lại thật gần, ở khoảng cách chưa tới mười mét, con mồi hiền lành ngơ ngác kia mới phát hiện được mối nguy thì đã quá muộn. [2]

Sau mấy ngàn năm sống chung với với thứ xóm giềng chuyên hành xử bằng luật rừng như thể là chúa sơn lâm, trong đó có một ngàn năm bị đô hộ, vậy mà, đến tận hôm nay, chúng ta vẫn hành xử như một dân tộc bị mù màu. Chúng ta, như đã kể ở trên, vẫn sử dụng thuốc độc của chúng hay chạy theo mấy đồng tiền vặt của chúng để tàn hại chính môi trường và nguồn sống của mình. Nhưng nếu hạng dân ngu khu đen ở dưới bị bệnh “mù màu” thì, ở trên, những chứa tước quyền hành đang bị “chứng” gì khi để những tình trạng như thế xảy ra, hết năm này sang năm khác? Họ, thậm chí, còn cong lưng theo những “dự án chung” và cong lưỡi theo những lời lẽ mỵ dân như là “vận mệnh” và “tương lai chung”?

Nếu có một thứ “vận mệnh” và “tương lai” chung thì đây, chúng đã biểu lộ ngay trong bộ rễ khô quắc từ cây mít bị đầu độc của tôi nên, do đó, cái chứng bệnh trong dấu hỏi trên, rõ ràng, không chỉ là khiếm thị mà là khiếm tư duy.

Nó cách khác, thẳng thắn, là bị đui, bị mù tận trong óc, trong đầu.

Tham khảo:

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.