Hôm nay,  

Cái thẹo song sinh

09/05/202414:33:00(Xem: 3335)
Truyện

Nam Bộ

Đời người không bình lặng mà luôn dậy sóng, lắm khi mưa lũ bão bùng, một khi nó đi qua thì ta mới thấy, mới thưởng thức được nét đẹp của hồ thu, của lá vàng bay lượn khắp nơi.
    Thuở đó, quê tôi ở vùng sông đồng bằng sông nước, nên nhà cửa được xây cất gần con sông hay kinh rạch để có nước dùng trong sinh hoạt hằng ngày; nếu bắt buộc phải có nhà ở nơi xa sông rạch thì phải có nhiều cái lu lớn để chứa nước mưa và phải đào thêm giếng để lấy nước.
    Khi tôi học hết lớp ba trường làng, rồi ra chợ quận học tiếp lớp nhì (lớp 4), tôi ở nhà ngoại, khu chu vi vừa mới thành lập, cách xa sông lớn lại không có giếng nước. Mỗi buổi chiều tôi phải ra sông gánh nước với cặp thùng nhỏ (ngoại mua đặc biệt cho tôi); đoạn đường từ nhà ra sông khoảng 400 mét, thời gian đầu thật là vất vả, sau đó thì rất dễ dàng là dịp để tôi tập thể dục, nhìn người qua lại thật là vui vẻ.
    Một hôm tôi mải mê xem hai người đang đấu cờ tướng, với thế cờ "pháo đầu mã đội" thật là hấp dẫn... quên chuyện đi gánh nước. Trước khi đi ngoại còn căn dặn: hôm nay nhà có việc, con phải đi gánh nước cho nhanh chớ có la cà, bà đợi con ở nhà ăn cơm. Khi nhớ lại lời ngoại dặn quay qua lấy cặp thùng chạy nhanh ra bờ sông, nhưng vì quá vội vàng làm cho cái đòn gánh đứt dây, rớt cái thùng xuống nước, tôi sợ cái thùng bị nước cuốn đi, tôi nhảy theo... nhưng đâu ngờ nước cạn, nên cái thùng nằm chờ sẵn để cắt đứt một đường dài ống chân của tôi, làm tôi té luôn xuống nước, cũng may mắn, có người quen đứng gần đó khiêng tôi đi băng bó vết thương.
    Có lẽ vết thương do cái đòn gánh đứt dây, nên đôi chân tôi không được cân bằng vững vàng như xưa, một hôm tôi đang đứng trên cái cầu ván trước nhà để nhìn người ta đì qua lại, bỗng nhiên mất thăng bằng té xuống, cắt đứt một đường dài bên chân kia. Sau khi lành lặn, hai ống chân tôi có hai cái sẹo song song, giống như hai anh em song sinh.

Đạn bay, pháo nổ đì đùng
Kiếp người ngắn ngủi có gì vấn vương
Cái tình, cái nghĩa mến thương
Đầu môi, chót lưỡi bụi đường cuốn đi
 
Sau ngày đổi đời tôi được đưa vào Chi Lăng, Vườn Đào, Bắc Hoà, chúng tôi gặp lại nhau, có thời gian để tính sổ: nhiều sư huynh sư đệ đã vĩnh viễn ra đi, người thì mang đầy thương tích, nhưng đâu có thuốc thang từ thuốc trụ sinh, hay thuốc giảm đau, và những vết thương cũ có dịp làm cho chúng tôi đau đớn thêm. Một hôm tình cờ, một sư huynh nhìn "cái thẹo song sinh" trên ống chân của tôi, gặng hỏi:
    - Bị thương hai chân, ở trận chiến nào vậy?
    Tôi thành thật trả lời:
    - Do tôi hiếu động, nên có hai cái theo nầy, tôi tự gây ra.
    Họ không tin, nói là tôi nói dối. Năm đó, vào những ngày lễ lớn xảy ra nhiều biến cố cho sư huynh đệ chúng tôi.
    Ở cuối "sam" là cái ụ canh gác ngày xưa, nay là nơi biệt giam; một người bạn cho biết là đã nhìn thấy hai người quản giáo kéo lê một người bị biệt giam, dường như đã chết! Hôm trước, nghe nhiều tiếng súng nổ ở phía hàng rào kẽm gai, dường như là sư huynh, gốc là dược sĩ quân y, vượt trại. Sau đó là liên đội họp, để học tập chánh trị.
    Thường ngày chúng tôi phải lao động 8 giờ, một hôm tôi được "tuyển chọn" đi tâp văn nghệ, có nhiều màn trình diễn "sửa dáng ưỡn ẹo" làm tôi mệt nhoài. Sau một thời gian tập văn nghệ tôi xin nghỉ, thế rồi cả tổ, nhóm họp lại, tra hỏi tôi vì sao xin nghỉ? Có ai xúi giục hay có lý do nào khác... Tôi chỉ trả lời là tôi quá mệt, nhưng họ không tin, và mỗi ngày từ 7 giờ đến 10 giờ tối, là họp kiểm điểm tôi. Anh em quá mệt mỏi, một hôm sư huynh Ắc Thành Đôn đến gần tôi than phiền:
    - Anh xin quì lạy em, làm ơn trở lại tập văn nghệ giùm anh! Họp hoài anh em chịu hết nổi rồi.
    Sau đó cán bộ đội là Ba Chu gọi riêng tôi đi tra vấn, tôi vẫn trả lời:
    - Tôi quá mệt mỏi, xin nghỉ.
    Anh ta nhìn xuống thấy "cái sẹo song sinh" dài trên ống chân tôi rồi hòi:
    - Có phải do hai cái thẹo nầy mà anh không đủ sức để tập văn nghệ, tôi sẽ đem thuốc anh uống hay là anh có chuyện gì khó nói ra hãy kể cho tôi nghe, tôi sẽ giúp anh? 
    Tôi đáp:
    - Không có gì, vết sẹo nầy tôi có từ lúc còn nhỏ, chớ không phải do chiến thương gì cả.
    Sau một thời gian dài lao lý, chúng tôi được thả ra, về quê chúng tôi phải vất vả mưu sinh, hòng bù đắp một phần nào những cực nhọc mà gia đình đã thăm nuôi. 
    Khoảng năm 1990, người bạn Như Chiêu quê ở Thốt Nốt, đã nạp đơn đi Mỹ theo chương trình HO, đang chờ ngày phỏng vấn, nên tâm trạng rất thoải mái, đang ngồi trước cái sạp nhỏ bán hàng ngoài chợ của gia đình, bỗng nhiên thấy một người mang quân phục của QĐND, bộ tướng xác xơ như người vừa bị thất sủng thẫn thờ lướt qua, trông quen quen; Như Chiêu chạy theo để nhìn kỷ xem là ai? Thật là bất ngờ, người đó là Ba Chu, cán bộ quản giáo ở Chi Lăng. Ba Chu cũng nhìn ra Như Chiêu, Như Chiêu mời anh ta đi ăn và tặng một ít quà với lời cám ơn vì đã đối xử tốt với những người tù cải tạo chúng tôi, không giống như những cán bộ khác.
    Ba Chu cho biết là sẽ về lại Bắc, quê nhà và ở luôn ngoài đó; hôm nay anh đảo vòng qua nhiều nơi để tiễn biệt người dân miền
Tây sông nước, làm anh nhớ lại chuyên xưa, hỏi thăm Như Chiêu về người có "cái thẹo song sinh" bây giờ ra sao?
    Như Chiêu đáp:
    - Nó vẫn còn chạy bộ mỗi ngày.
    - Hả?
   
                                          * * *
 
Gần 50 năm đổi đời, hơn 30 năm sống ở xứ lạ quê người, mỗi năm vào những ngày Tháng Tư, chuyện xưa bỗng nhiên sống lại, sư huynh sư đệ chúng tôi gọi nhau để "kiểm tra quân số", xem ai còn, ai mất. Như Chiêu vẫn đặt câu hỏi xưa về "cái thẹo song sinh", đã bị thương ở trận chiến nào, sao không khai báo là TPB để có thêm quyền lợi?
    Thiệt là hết ý cho mấy ông, mấy bà, tôi đã thật thà khai báo nhiều lần mà vẫn không tin! 
     
Bình minh, thoáng chốc đã chiều tà
Mười người, mất bảy chỉ còn ba
Hai nằm bệnh, một lết la
Thất thập, vẫn khoẻ đó là trời ban
Người ơi xin chớ buồn, than
Trăm năm ngắn ngủi, bạn vàng chờ ta
Xin đừng, ở đó la cà 
Chén trà, chén rượu, tà tà chưa đi.

 

– Y Châu

  

 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.