Hôm nay,  

Sơn Tây Ngày Về

10/12/202423:10:00(Xem: 4761)
thành cổ sơn tây
Cửa Bắc Thành Cổ. Ảnh baotanglichsu.vn

 

(để tưởng nhớ đến Bố nhân ngày giỗ thứ 10: 12/20/2024)

Chuyến đi Sơn Tây dự tính cả năm nhưng mãi đến cuối thu 2010 chúng tôi mới thực hiện được. Bố tôi đã hơn 100 tuổi nhưng thể lực tương đối vẫn còn khoẻ do đó tôi dắt Bố về thăm lại cố hương trước khi có cơn gió mạnh nào đó chưa kịp thổi tắt ngọn nến vàng.

Bố mẹ tôi sống tuổi thơ ở miền quê nhỏ bé này, cùng đi học, đi làm, yêu nhau rồi lập gia đình và sau cùng di chuyển về thủ đô. Tôi sanh tại Hà Nội nhưng vì quê nội và ngoại đều gốc Sơn Tây nên mỗi khi nghe câu thơ “Quê hương là chùm khế ngọt” tôi hình dung ngay đến Sơn Tây mặc dù địa danh hữu tình này chỉ sống trong tâm khảm qua những câu chuyện gia đình.

Ngày về mang nhiều ý nghĩa, Bố sẽ thăm lại miếng đất cũ của gia đình, tuy đã 100 năm nhưng vẫn còn đó! Tôi muốn ngồi nghe Bố kể lại chuyện tuổi thơ và cả chuyện 100 năm của Bố với Mẹ nơi quê cũ... Hy vọng Bố còn khả năng nhớ lại kỷ niệm đã tròn 1 thế kỷ! Sự việc đó trên thực tế hẳn cũng không dễ dàng.

Từ Hà Nội theo quốc lộ 32 đi về hướng Tây Bắc, khoảng 40 cây số hơn 1 tiếng đồng hồ chúng tôi đến Sơn Tây. Trung tâm thị xã là Thành Cổ, tọa lạc trên miếng đất vuông, bờ tường cao xây bằng đá ong. Đền Vọng Cung hay còn gọi là Điện Kiến Thiên ở giữa Thành được cất từ thời vua Minh Mạng thứ III để hàng năm cúng trời đất cho quốc thái dân an. Những năm chiến tranh, quan quân cố thủ trong Thành vì được bảo vệ bên ngoài bởi 1 con hào vừa dài vừa sâu. Hiện nay vẫn còn chứng tích và nước sông hào Tích Giang bao thế kỷ vẫn êm đềm chảy quanh.

Ở Sơn Tây, tôi là khách lạ nhưng mang tâm trạng sâu đậm như người trở về nguồn cội. Đầu tiên tôi tìm mua tấm bản đồ tỉnh lỵ nhưng không ai bán, họ chỉ dẫn địa điểm Thành Cổ rồi theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc của hình vuông ấy là sẽ tìm ra mọi nơi. Hướng Nam đối diện với phố Quang Trung còn gọi là Cửa Tiền, Cửa Hậu ở hướng Bắc có phố Lê Lợi và nếu đi thẳng đến cuối đường sẽ gặp sông Hồng, hướng Đông là Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ và cuối cùng hướng Tây hay Cửa Hữu có phố Ngô Quyền. Cấu trúc đặc biệt này làm tôi liên tưởng đến thành phố New Haven thuộc bang Connecticut nơi có trường đại học Yale. New Haven cũng bắt đầu từ miếng đất vuông ở giữa tỉnh gọi là New Haven Green rồi tất cả đường phố hay cơ sở đều xây ngang dọc chung quanh giống như Thành Cổ Sơn Tây.

Bố Mẹ tôi lúc bé sống với Ông Bà ở Cửa Hậu, từ đó lại đưọc phân chia ra bốn khu: Hậu An, Hậu Ninh, Hậu Bình, Hậu Tĩnh. Gia đình Ông Bà ở phố Hậu An, lúc đó Bố Mẹ tôi là những đứa trẻ học trường làng. Hiện nay, nhà cửa ở khu phố này đã xây mới lại, chỉ còn 2, 3 căn lụp sụp, cửa ngõ xiêu vẹo, chắc chẳng bao lâu nữa cũng phải đập đổ nhưng đặc biệt ngôi chùa Hậu An vẫn đẹp, kiên cố, ngạo nghễ như thách đố với thời gian. Chùa toạ lạc ngay khu đất xưa, được bảo trì nên vẫn giữ được nét cổ kính, trang nghiêm. Phố Hậu An bây giờ đổi thành Lê Lai, cắt ngang phố chính Lê Lợi. Ở đây có tiệm phở Xê, nghe đồn ngon và rẻ nhất Sơn Tây. Ông Xê khi còn sống đạp xích lô, chán nghề nên mở tiệm phở, bây giờ giao cho vợ con nhưng quá đông khách nên chỉ làm đến giữa trưa là đóng cửa. Tiệm phở không có bảng hiệu nhưng cả tỉnh ai cũng biết.

Mỗi sáng tôi đi bộ với Bố ăn điểm tâm phở Xê hay bánh cuốn tráng tay rồi đi bộ đến quán cà phê gần ngôi chùa cổ, khu đất xưa của Ông Bà tổ tiên. Quán có một bàn nhỏ, đối diện với phố chợ. Ngồi bên nhau, nhiều lần tôi thấy Bố nhìn xa xăm, chẳng nói lời nào vì kỷ niệm quá dầy hay nghẹn ngào do tất cả đã lùi vào dĩ vãng hoặc đắn đo chẳng biết bắt đầu câu chuyện đời mình từ đâu? Bố thích hương vị cà phê đen, tôi để ý những lúc yên lặng, Bố hớp một ngụm đắng như muốn vơi đi nỗi buồn tha hương, nỗi buồn phu thê nay đã nghìn trùng xa cách... Tôi bỏ thuốc lá đã 10 năm nhưng hôm nay, tự nhiên tay quơ lấy bao thuốc trên bàn và đốt lúc nào không hay!

Giờ phút lịch sử này quay lại từ 100 năm, chẳng biết Bố đang nghĩ gì? Tôi thầm biết mình may mắn có đủ điều kiện, cả thời gian và sức khoẻ, giống như cá hồi bơi ngược giòng trở về nguồn cội. Hơn thế nữa, tôi còn được ngồi cạnh Bố già “Người về từ trăm năm” trên mảnh đất cũ sáng nay.

Ngày nào cũng có phiên chợ, người mua kẻ bán như trảy hội, đa số là các bà, các cô. Tôi ít thấy đàn ông Sơn Tây ở nơi này, họ thường la cà các quán nhậu, tán dóc với bạn bè nếu không thì trầm ngâm với điếu thuốc trên môi. Ở Sơn Tây, tôi dậy sớm lúc 5 giờ, tản bộ đường Quang Trung là đến Thành Cổ. Tôi gặp vài cô gái trẻ quét lá vàng trên phố. Khoảng 1 tiếng sau thì đèn đường tắt và loa phóng thanh rỉ rả tin tức từ quê ra tỉnh, mọi nhà vẫn đóng cửa ngủ yên như không có gì xẩy ra.

Có buổi chiều, khi ánh dương vừa khuất sau đồi, tôi đến khu đất nhiều cây lá, có tên là Vườn Ổi để uống cà phê với mấy bạn. Ngồi ở vườn, với không khí ảm đạm miền quê, ngọn đèn mờ ảo, từ trong nhà 2 thiếu nữ tuổi đôi mươi ra tiếp chúng tôi… Được biết mảnh vườn này ở khu Hậu Bình (gần khu Hậu An của Bố Mẹ tôi) đất quê của Trung Tướng Lê Nguyên Khang tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến miền Nam trước năm 75 và bây giờ những người cháu của ông làm chủ quán Vườn Ổi vừa rộng vừa hữu tình. Căn nhà cũ của Tướng Nguyễn Cao kỳ ở Cửa Hữu, phố Ngô Quyền. Nghe kể ông Kỳ có về thăm Sơn Tây chớp nhoáng, sáng đến chiều đi. Ông có người anh cùng cha khác mẹ tên là Nguyễn Cao Đăng qua đời mấy năm nay. Sinh thời, ông Đăng bán báo sống qua ngày, cuộc đời cơ cực bần hàn.

Ngày 30 tháng 4 năm 75, khi chiếc xe tăng đầu tiên cán dẹp cánh cửa sắt chạy thẳng vào Dinh Độc Lập; chiếc xe thứ hai từ phía sau lướt tới... Hình ảnh ấy chúng ta đã xem nhiều lần trên truyền hình nhưng truyện này có một chi tiết quan trọng tôi xin kể vì người Sơn Tây bất mãn...

Trên chiếc xe tăng đầu tiên có 3 bộ đội, họ đánh sập cửa sắt Dinh Tổng Thống nhưng cả 3 không hề được ghi công. Chiếc xe thứ 2 vượt lên, vị sĩ quan tức thì nhẩy ra, leo lên Dinh cắm lá cờ xanh đỏ vàng rồi sau đó hắn được gắn huy chương và công trạng đi vào lịch sử. Trong 3 người ấy, Phượng là nông dân Sơn Tây, bây giờ cắt tóc ở bờ hào, công an đuổi lên đuổi xuống vì làm việc nơi công cộng không có giấy phép, người thứ 2 lái xe Lam ở Saigon và người thứ 3 trở về thôn cầy ruộng.

Chợ Nghệ nằm ở Cửa Tả, lấy tên của làng Nghệ, cách xa tỉnh Sơn 1 cây số. Chợ vừa xây 2 tầng ngay bên bờ hào Thành Cổ; những ngày tôi đến thì chợ chưa khánh thành và người ta họp chợ tạm gần đó. Đi chợ có cái vui là thấy sinh hoạt của tỉnh, rau cỏ, trái cây đều tươi từ quê mang ra. Tất cả gà vịt, chim chóc, cóc nhái hay hải sản cá, cua, tôm, lươn đều còn sống. Khi chọn ăn con nào thì con đó chết! Người bán cắt cổ, giết ngay trước mặt mình rồi nhổ lông làm sạch tại chỗ. Có lần 2 chim bồ câu đã bị đập chết chỉ vì tôi chán thịt gà! Kể từ đó, tôi không muốn trở lại phiên chợ Sơn Tây 1 lần nào nữa.

Danh lam thắng cảnh ở xứ Đoài nhiều lắm: Đền Và, Chùa Mía, Chùa Tây Phương, Núi Ba Vì… Tản Viên là ngọn cao nhất của núi Ba Vì. Từ Thành Cổ, tôi có thể nhìn thấy ngọn Tản Viên khi trời quang mây tạnh. Tản Viên là nơi xẩy ra sự tích Sơn Tinh, Thủy Tinh mà chúng ta đều đã học lịch sử. Tỉnh Sơn Tây xuất phát nhiều nhân tài tập trung ở 2 địa hạt quân sự và văn chương chẳng hạn như: Tản Đà Nguyển Khắc Hiếu, Quang Dũng, Chu Tử, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Ngọc Ngạn… ngoài những tướng tá tôi kể ở trên còn có Ngô Quyền, Phùng Hưng…

“Đôi mắt người Sơn Tây” là đôi mắt có linh hồn, không phải chỉ đẹp bề ngoài mà chứa đựng cả bầu trời tâm sự bên trong. Khi về đây, tôi hỏi vài trưởng lão để tìm “Đôi mắt người Sơn Tây” thì không ai có câu trả lời rõ ràng vì không thấy cô gái nào có đôi mắt đặc biệt ấy! Thỉnh thoảng tôi gặp vài cô gái đẹp nhưng không phải đôi mắt. Sau cùng, đọc lại bài thơ Quang Dũng: “Đôi mắt người Sơn Tây, u uẩn chiều lưu lạc, buồn viễn xứ khôn nguôi…” thì tôi không đi tìm nữa, đôi mắt ấy tôi đang sở hữu ở nhà và nhiều lần đã say đắm. Nỗi lòng này chỉ duy mình tôi hiểu…

Cuối cùng tôi đến viếng từng ngôi mộ, ông Bà Nội, ông Bà Ngoại, tôi cũng thăm tất cả họ hàng, có người chỉ biết tên chưa bao giờ gặp nhưng đã sớm nằm trong lòng đất. Nghĩa địa ở đây quạnh hiu không bút nào tả được, không khí lạnh lẽo bao phủ tận chân trời, từng ngôi mộ xanh cỏ đôi khi không bia đá, không hàng lối nổi lên ngổn ngang từ mặt đất tạo nên cảnh kinh hãi như người chết nhấp nhô trở về.

Đất xưa nên cảnh tượng hoang tàn, con người Sơn Tây nghèo khổ, đâu đâu cũng thấy đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo nên người chết phải sống trong lạnh lùng, ít ai dành thời giờ thăm viếng bảo trì vì thế khi bước vào mộ phải chặt cây, nhổ cỏ mới tìm đến nơi. Tôi nhớ nhất Bà Ngoại, năm 54 để Bà ở lại, Bố Mẹ tôi di cư vào Nam, cứ ngỡ xa cách chỉ vài tháng là đoàn tụ nhưng chiến tranh mỗi năm mỗi khốc liệt và mỗi ngày một cách xa. Bà già yếu khóc nhiều vì nhớ thương con cháu nên lòa cả 2 mắt rồi ra đi không một ai trong gia đình ở bên Bà. Bao nhiêu kỷ niệm đẹp của tôi đều xuất phát từ tình yêu của Bà. Tôi đã đến, đốt nén hương lòng, ngậm ngùi tưởng nhớ những năm xưa, những ngày thơ ấu có bàn tay Bà nâng niu ấp ủ... Gió bão thời cuộc đã cuốn đi tất cả và cuộc đời vẫn nổi trôi!

Ngày mai tôi sẽ xa Sơn Tây, không biết bao giờ sẽ trở lại nhưng xứ Đoài với bao ân tình vừa sống lại trong ngày về bên cạnh Bố sẽ chẳng thể phôi pha trong lòng tôi. Quê hương tôi là Đất Việt, có tỉnh lỵ Sơn Tây với núi Tản sông Hồng “nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Sơn Tây ngày về là chuyến đi cuối của Bố tôi trước khi lìa trần. Dư âm ấy đã ghi đậm trong lòng để tôi viết nên nhiều tâm sự.

Vin CĐ

Irvine 12/07/2024 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.