Hôm nay,  

Xóm Mới Ơi!

19/12/202500:00:00(Xem: 1715)

Xom Moi oi
Minh họa: Tranh Đinh Cường
 
Xóm Mới ơi, thương quá một đời
Mái trường tuổi trẻ bước rong chơi
Những khu xóm Đạo vương kỷ niệm
Nơi chốn quê nhà đã xa xôi …
 
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
 
Mùa Thu năm 1954, đất nước Việt Nam bị phân chia thành hai miền Nam Bắc cách biệt với hai thể chế chính trị đối lập. Hàng ngàn người bắc theo tàu há mồm di cư vào Nam, được Tổng Ủy Di Cư đưa về trại định cư tại Xóm Mới. Đến cuối năm1954, dân số trại định cư Xóm Mới đã lên đến bốn ngàn, nhưng chính phủ vẫn tiếp tục đổ dồn dân di cư về đây. Từ đó, dân số khu vực Xóm Mới đã tăng nhanh chóng và theo thời gian, con số càng ngày càng lớn hơn rất nhiều.
 
Nói đến Xóm Mới - Gò Vấp, có lẽ nhiều người nghĩ khu vực này chỉ toàn nguòi "Bắc Kỳ di cư". Nhưng trong thực tế, còn có một số người địa phương trong cuộc chiến đã phải bỏ xã An Nhơn lên Sài Gòn hay các nơi khác, đến khi thanh bình đã trở lại quê cũ làm ăn và tái lập nghiệp trong vùng Xóm Mới trên phần đất của tổ tiên. Dù sao, Xóm Mới cũng gồm hầu hết những người gốc các tỉnh phía bắc vĩ tuyến 17. Khi vào đến Xóm Mới, họ sống theo nhóm quê quán từ ngoài Bắc, đa số lại có đạo Công Giáo, nên dần dần hình thành nên 13 xứ đạo: Hà Đông, Hà Nội,Thái Bình, HợpAn,Tử Đình, Fatima,Tân Hưng,Trung Bắc, Hoàng Mai, Bắc Dũng, Hoà Bình, Mẹ Hằng Cứu Giúp và Lạng Sơn.

Tuy nhiên, Xóm Mới cũng có người theo các tôn giáo khác như: Tin Lành, Phật Giáo hoăc chỉ là đạo thờ kính ông bà tổ tiên nhưng nhiều người vẫn gọi Xóm Mới là vùng đất Công Giáo, bởi khách lạ đặt chân đến đây sẽ thấy rất nhiều nhà thờ của 13 xóm đạo, và nhà cửa của giáo dân thường ở xung quanh bao bọc nhà thờ xứ mình.
 
Thời gian trôi qua, Xóm Mới đã trở thành "đất lành chim đậu", là khu vực sầm uất, nhà cửa san sát, và càng ngày càng có nhiều người đến ở vùng này. Với bản tình siêng năng, cần cù, có ý chí vươn lên, người dân Xóm Mới làm đủ các ngành nghề, trong đó có nhiều nghề gia truyền, hàng chất lượng cao, nổi tiếng khắp vùng lân cận, đã góp phần xây dựng nền kinh tế hùng mạnh của khu Gò Vấp.  Có thể kể đến nghề sản xuất cau khô, làm vỏ xe đạp, trồng rau, hoa Tết, pháo và thịt cầy.

Nói đến pháo, những ai ở lại quê nhà thập niên 80s làm sao quên được những đêm giao thừa xác pháo đỏ ngập đầy phố phường, mà phần lớn số pháo Tết được sản xuất từ Xóm Mới? Ký ức tôi còn mang theo mãi hình ảnh những chiều cuối năm, ngồi trước cửa nhà ngắm những chếc xe ba gác chở đầy hoa, và pháo đi ngang nhà mà lòng nôn nao không khí mùa Xuân. Còn món thịt cầy Xóm Mới nức danh một thời ai cũng biết. Cứ từ ba bốn giờ chiều, từ ngay ngã tư Xóm Mới, kéo dài qua chợ, xuống đến tận xứ Hà Nội, xứ Lạng Sơn, các quán thịt cầy bắt đầu bày hàng,  mùi nướng thịt thơm lừng, làm ngất ngây khứu giác khách qua đường và quyến rũ những tín đồ của món “quốc hồn quốc túy” này.
 
Với 13 xóm đạo nằm gần kề nhau, với lòng tín ngưỡng mạnh mẽ, Xóm Mới đã được khắp nơi biết tới như một trong những khu Công Giáo đặc trưng của Miền Nam Việt Nam. Ngày nay Xóm Mới là địa chỉ không thể thiếu được của giới trẻ Sài Gòn vào dịp Giáng Sinh. Họ đổ về Xóm Mới xem các nhà thờ các xóm đạo trang hoàng rất cầu kỳ đặc sắc, chụp hình kỷ niệm, sau đó tham dự thánh lễ nửa đêm, không cần phải chen chúc nơi Vương Cung Thánh Đường ngoài trung tâm Sài Gòn, mà vẫn có một không khí Noel đủ sắc màu Công Giáo, vừa linh thiêng vừa thoáng mát trong khung cảnh tưng bừng của người dân Xóm Đạo.
 
Có lẽ vì là dân Công Giáo, bắc kỳ, di cư nên dân Xóm Mới một thời sau 1975 đã bị chính quyền phân biệt đối xử, bởi  ngoài việc siêng năng làm việc kiếm sống, họ say mê việc nhà Chúa hơn việc …nhà nước! Người ta không lạ gì những buổi sớm mai, khi thành phố chưa thức giấc, các ông bà già rảo bước đến nhà thờ khi thời chuông nhất vừa đổ. Hoặc khắp các ngõ ngách trẻ em chơi đùa vào giờ chiều, nhưng hễ nghe tiếng chuông nhà thờ, chúng vội vã đứng dậy, chạy về nhà rửa vội chân tay rồi bước ngay đến nhà thờ chỉ cách đó mấy bước chân. Đứa nào lỡ mê chơi, thì y như rằng sẽ nghe tiếng của mẹ hoặc bà nó vọng ra từ trong nhà nhắc nhở đi lễ! Có thể nói, đi nhà thờ, cầu nguyện, thờ phượng Chúa đã chiếm đa số thời gian của người xóm đạo Xóm Mới.
 
Thời chúng tôi học ở trường trung học Nguyễn Trung Trực, cô hiệu trưởng vốn là cán bộ tập kết, cứ mỗi mùa Phục Sinh hay Giáng Sinh, đã ra thông báo trong toàn trường sẽ phạt nặng những học sinh nghỉ học vào ngày thứ sáu tuần Thánh mùa Phục Sinh và ngày hai mươi lăm tháng mười hai Chúa Giáng Sinh. Vậy mà hai ngày đó đến lớp cũng chỉ lưa thưa vài học sinh, xem ra lời đe dọa của cô hiệu trưởng không ảnh hưởng gì đến niềm tin của đoàn con Chúa trong hai ngày lễ quan trọng đó. Cứng đầu cứng cổ như thế, nên dân Xóm Mới ít khi được vào biên chế nhà nước, hoặc giới thanh niên khó được vào “Đoàn” vào “Đảng” vì lý do có đạo công giáo, cho nên khi có phong trào vượt biên, rất nhiều người con của Xóm Mới đành phải nuốt nước mắt, lìa xa xóm nhỏ yêu thương, lên đường tìm tự do.
 
Hơn một phần ba thế kỷ xa quê, mỗi lần nhớ về Xóm Mới là mỗi lần tim tôi rạo rực nỗi nhớ khôn nguôi. Nhớ những buổi trốn học cùng bạn bè, đi bộ từ trường ra chợ Xóm Mới, ngồi quán vỉa hè ăn bánh đúc chấm mắm tôm ngon tuyệt vời. Nhớ những đêm Giáng Sinh, ngồi uống cocktail ở quán ngã tư Xóm Mới, nghe nhạc Noel và ngắm thiên hạ náo nhiệt khắp các ngả đường. Nhớ ngôi trường cấp ba Nguyễn Trung Trực ngay xứ Hoàng Mai, nơi đã cho tôi một thiên đường tuổi trẻ tràn đầy hạnh phúc, mộng mơ.
 
Ở bất cứ nơi đâu trên quê hương, mỗi vùng đất cũng ít nhiều sản sinh ra những người con tài năng về một lãnh vực nào đó. Riêng mảnh đất Xóm Mới, cũng đã khiêm nhường có hai người con, có chút tài nhỏ bé, đóng góp cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
 
Người thứ nhất là Đức Cha Pherô Nguyễn Văn Khảm. Ngài sinh vào tháng mười năm 1952 tại Hà Đông, di cư vào Nam năm 1954. Ngài đã từng học qua Tiểu Chủng Viện Cái Răng Cần Thơ, Đại Chủng Viện Thánh Toma Long Xuyên và Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, và được thụ phong linh mục vào tháng 8 năm 1980. Cha đã có tám năm làm linh mục quản nhiệm tại hai giáo xứ Hà Đông và Hà Nội ở Xóm Mới. Thời gian này, Cha đã thu hút rất nhiều giáo dân, nhất là giới trẻ đến với nhà thờ bởi những bài giảng của Ngài thật lôi cuốn, hấp dẫn. Sau đó Ngài được chuyển qua làm phụ tá giáo xứ chánh tòa Sài Gòn, làm Cha giáo tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse. Từ năm 2004 đến 2008, Ngài giữ chức giám đốc trung tâm Mục Vụ tổng Giáo phận Sài Gòn, rồi đảm nhận làm thư ký điều hành Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, trước khi được Giáo Hoàng Benedicto bổ nhiệm làm giám mục phụ tá Tổng Giáo phận Sài Gòn và ngày 15 tháng 11 năm 2008, Ngài được Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn tấn phong và hiện nay đảm nhận vai trò Giám mục Chính tòa Giáo phận Mỹ Tho.
 
Người thứ hai tôi xin kể đến là nhạc sỹ công giáo Phanxico. Anh tên thật là Nguyễn Đình Diễn, sinh năm 1957. Nghe nhạc của anh, người nghe dễ lầm tưởng anh là một linh mục, nhưng thật ra anh là giáo viên tiếng Anh ở một trường trung học, anh cùng gia đình hiện cư ngụ tại  xứ Lạng Sơn, Xóm Mới. Trước năm 1975, nhạc sỹ Phanxico có học trong chủng viện Don Bosco gần chợ Gò Vấp, nhưng vì hoàn cảnh nên sau đó đã lập gia đình, và sở thích viết Thánh Ca đã theo đuổi anh thành một đam mê không ngưng nghỉ.
Nhiều bài Thánh Ca của Phanxico rất phổ biến và đi vào lòng những tín hữu công giáo Việt Nam khắp nơi bởi nét nhạc dễ nhớ, lời ca dễ hiểu, tràn ngập lòng yêu mến Chúa, tôn vinh Đức Mẹ: Chúa Là Con Đường, Con Chỉ Là Tạo Vật, Mẹ Là Bóng Mát, Cầu Cha Cha Mẹ 2, Bước Chân Ngài, Sự Sống Thay Đổi, Dâng Niềm Cảm Mến, Khi Hoa Nở Miền Cana,và Tình Yêu Thiên Chúa (viết chung với Thế Thông) .v.v..
 
Riêng tôi, khi còn ở trại tỵ nạn Thailand, những buổi chiều mưa tham dự thánh lễ, nhìn cây lá ướt ủ rũ ngoài hiên nhà thờ dưới màu trời buồn tênh của xứ tạm dung, đã hơn một lần nước mắt tôi tuôn rơi, nức nở nỗi cô đơn, nhớ nhà khi cùng ca đoàn hát bài dâng lễ của Phanxico:
 
“Dâng lên Chúa trái tim ươm mộng mơ
 Bao nhiêu lần đã khóc bên trời mưa …
 Dâng vui buồn sẽ đến, dâng sướng khổ qua rồi
 Dâng lên trời trót một kiếp con người!…”
 
Anh Phanxico, có phải anh được lớn lên trong mười ba xóm đạo của Xóm Mới, nơi mà việc phụng thờ Chúa là việc làm quan trọng nhất trong mỗi ngày, nơi trái tim anh hòa nhịp theo tiếng chuông sớm chuông chiều của xóm đạo, nơi mảnh đất nhỏ bé xinh đẹp có chợ Xóm Mới rộn ràng từng ngày, có cây cầu Tứ Quý dẫn ra xa lộ Đại Hàn những chiều gió lộng, có An Nhơn hướng đến An Phú Đông rợp bóng cây xanh mát …tất cả những điều đó đã nuôi dưỡng tâm hồn anh,  nâng cánh tâm hồn anh, để anh làm nên những bản Thánh Ca đầy chân tình, thiết tha như những người con của mảnh đất ấy?
 
Giờ đây chúng ta lại chuẩn bị đón một mùa Giáng Sinh nữa trong đời, tôi cũng đang nhớ da diết nơi chốn đó, nửa đêm tan lễ dòng người đổ ra các ngả đường, trở về nhà ăn tiệc đón Chúa Hài Đồng. Thấp thoáng đâu đó trên sân thượng nhà ai, những nam thanh nữ tú gặp gỡ quay quần, nghe tiếng hát của nữ hoàng sầu muộn Giao Linh trong băng nhạc Sơn Ca với nhạc phẩm bất hủ : “Một mùa sao sáng đêm Noel Chúa sinh ra đời/ Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui …” mà bâng khuâng đón chờ Re-vi-on, để nửa đêm sương rơi ướt lạnh đôi bờ vai mà niềm vui vẫn lấp lánh trên khóe mắt, nụ cười.
 
Nhưng đó là hình ảnh của Xóm Mới hơn ba mươi năm trước, chẳng biết bây giờ cảnh cũ người xưa có còn đó hay cũng đã phai mờ theo tháng năm? Nhưng tôi biết chắc chắn rằng, Xóm Mới tháng 12 năm nay vẫn lung linh với đèn hoa như muôn thuở, từng góc phố, từng xóm đạo vẫn tràn đầy hồng ân Giáng Sinh, tiếp tục ghi vào tâm tưởng người dân những dấu ấn khó quên nếu như sau này, vì lý do nào đó, đành phải lìa xa vùng đất đã cũ, vẫn mang tên gọi là Xóm Mới.
 
Edmonton, Dec 2025
Kim Loan
 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.