Hôm nay,  

Chiếc Hồ Trên Đá

19/12/202500:00:00(Xem: 2017)

Molokini Crater_Ảnh Tường vi Lê
Ảnh minh họa từ Lê Tường-Vi;  Molokini Crater.
  
Tác giả là cư dân San Diego, đã hai lần thắng giải Viết Về Nước Mỹ. Năm 2001, với bài "Hoa Ve Chai", ông nhận giải danh dự. Ba năm sau, với bài viết "Giọt Nước Mắt," kể về Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại tiểu bang New Jersey do một kiến trúc sư Việt Nam vẽ kiểu, ông nhận giải chung kết Viết Về Nước Mỹ 2004. Ông tiếp tục viết bài và tham gia sinh hoạt giải thưởng VVNM hàng năm. Mùa lễ Tạ Ơn năm nay, tác giả gửi đến Viết Về Nước Mỹ một loạt 5 bài bút ký thấm đậm tình người từ trong gia đình đến những người thân quen của mình. Sau đây là bài thứ hai: “Chiếc Hồ Trên Đá”.

TG Sapy Nguyễn Văn Hưởng
TG Sapy Nguyễn Văn Hưởng
 
***
 
Một chiếc hồ con nằm lặng yên trên đá,
Mà trong mắt trẻ thơ là cả vũ trụ xanh...
 
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
 
Tiếc thay, suốt bốn năm liền California oằn mình trong hạn hán, ảnh hưởng đủ đường đến đời sống cư dân. Không ai biết bao giờ tuyết và mưa mới trở lại như xưa để thảm cỏ trước nhà có cơ hội hồi sinh, để màu xanh công viên thôi lụi tàn.
 
Tôi vẫn nhớ hôm tiểu bang ban bố tình trạng khẩn cấp vì thiếu nước, nhà tôi nhận được một cú điện thoại kêu gọi tiết kiệm. Chồng tôi vui vẻ trả lời:
 
- Thưa cô, nhờ tiết kiệm nước mà sức khỏe vợ chồng tôi tốt lên nhiều lắm!
 
Giọng cô nhân viên ngạc nhiên:
 
- Dạ... ông vui lòng giải thích rõ hơn?
 
Nhà tôi thản nhiên đáp:
 
- Vì ngày nào vợ chồng tôi cũng tới phòng tập thể dục, tập xong thì tắm luôn ở đó!
 
Còn Thành, em chồng tôi, tếu táo khoe danh hiệu "vô địch tiết kiệm nước bang Cali":
 
- Chị Hai biết không, hồi trước một ngày em đánh răng ba lần. Giờ thì... ba ngày mới đánh một lần! Vậy đủ tiết kiệm chưa?
 
Điều khiến tôi buồn nhất không phải hóa đơn tiền nước, mà là mất trắng bốn mùa hoa Tần Ô. Ở San Diego, loài hoa ấy mọc khắp nơi: chỗ đất hoang, bên lề xa lộ, dọc những sườn đồi nắng cháy. Ngay sau nhà tôi, nơi lưng chừng đồi, cứ đầu tháng Hai là những bụi Tần Ô nhú xanh non; sang tháng Ba hoa nở vàng rực kéo dài suốt gần ba tháng. Màu hoa dân dã và đầy sức sống ấy từng làm lòng tôi rộn ràng; tôi rủ không biết bao nhiêu bạn bè cùng đến ngắm. Mất mùa hoa là mất đi những buổi rong chơi với các cháu, mất cả những khung hình tuổi thơ tôi treo trong nhà, giữ làm kỷ niệm trong album. Cứ nghĩ đến đó, tôi lại buồn đến tê tái lòng.
 
Vốn say mê chụp ảnh, tôi xem mỗi mùa hoa đến như món quà riêng của đất trời dành cho bà cháu tôi. Từ khi các cháu còn bé xíu, chúng đã trở thành "người mẫu" trong những buổi dạo đồng hoa. Mỗi lần đi ngắm hoa là một ngày đầy ắp tiếng cười, tay nắm tay, váy áo tung bay giữa trời hoa vàng, mây trắng. Mất mùa hoa nghĩa là mất luôn những buổi rong chơi và cả những khung hình rực rỡ nơi tuổi thơ đang cười tươi giữa nắng sớm lung linh. Những tấm ảnh ấy như một thứ quý giá nho nhỏ lưu giữ kỷ niệm, khiến tôi càng tiếc nuối khi mùa hoa vụt qua.
 
Ngoài hoa Tần Ô, San Diego còn nhiều cảnh đẹp làm say đắm lòng người. Công viên Balboa là một ốc đảo xanh giữa phố thị, với thảm cỏ mượt mà, hồ nước phẳng lặng. Rồi còn bao nhiêu viện bảo tàng, vườn Nhật, vườn xương rồng hòa quyện cùng kiến trúc Tây Ban Nha cổ kính. Mỗi bước chân dạo quanh như lạc vào một thế giới khác, vừa thư thái vừa gợi hoài niệm. Thành phố cũng nổi tiếng với những bãi biển, mỗi nơi một vẻ: La Jolla Cove với biển xanh như ngọc, vách đá ôm lấy sóng bạc; Mission Beach rộn ràng tiếng cười với xe đạp nối đuôi nhau chạy dọc bờ cát trắng; Sunset Cliffs, chỉ cần ngồi yên trên mõm đá, đôi chân thong thả đong đưa, mắt ngắm nhìn mặt trời lặn là lòng dịu hẳn lại.
 
Từ suốt mấy năm nay, một nơi cách nhà tôi chừng chục dặm đường đã trở thành chốn tôi hầu như tuần nào cũng ghé một hai lần: bán đảo Coronado. Muốn sang bên đó, tôi phải lái xe qua một cây cầu dài vắt ngang vịnh San Diego như dải lụa bê tông uốn cong mềm mại trên mặt nước. Đến giữa cầu, chiếc xe như được nâng lên để ngắm toàn cảnh thành phố với những tòa cao ốc lấp lánh và dòng nước êm đềm xanh trong mênh mang; đủ loại thuyền lướt qua, thuyền buồm, ca nô, du thuyền và thỉnh thoảng vài chiếc tàu hải quân hùng dũng diễn hành trước bao con mắt ngắm nhìn. Gió biển nhè nhẹ thổi lên làm mát cả thân người lẫn tâm hồn.
 
Qua khỏi chân cầu, tôi phải lựa chọn: rẽ vào công viên Tidelands với bãi cỏ xanh mướt, hàng cọ thẳng tắp và con đường xi măng sạch bóng để dạo bộ, hòa mình cùng trẻ con và các cặp đôi tận hưởng nắng vàng, gió mát, hoặc cứ thế chạy thẳng ra Coronado Beach.
 
Mấy lần đầu tôi đến rồi đi, biển Coronado không để lại ấn tượng đặc biệt nào; thậm chí còn khiến tôi khó chịu vì từ bờ xuống mé nước phải băng qua một bãi cát khô, nhiều đoạn dài cả trăm thước. Mãi sau một chuyến sang Hawaii, vợ chồng tôi mới khám phá ra thú vui đi chân trần trên cát, và từ đó nhìn Coronado bằng đôi mắt khác, như nhận ra một món quà bất ngờ vốn đã có từ lâu.
 
Coronado, một bãi cát dài quay ra Thái Bình Dương, bị căn cứ hải quân chặn hai đầu nên chỉ còn khoảng hai dặm dài cho người ta vui chơi; cát trắng mịn pha ánh kim trải như dải lụa, biển xanh ôm lấy đường chân trời, xa xa mái ngói đỏ của khách sạn Del Coronado nổi bật như lâu đài cổ tích. Đứng trước tòa nhà ấy, tôi nghĩ nơi này đã chứng kiến bao dấu chân người đời, từ thuở ông cha tôi còn đội khăn đóng đến hôm nay, một người đàn bà Việt xa xứ mới chịu đặt chân trần xuống cát để cảm nhận hết vẻ quyến rũ.
 
Mỗi buổi chiều, ánh hoàng hôn nhuộm đỏ cả bầu trời lẫn mặt biển; lớp cát khô ngày trước từng làm tôi ái ngại, giờ như đang xoa bóp dưới gan bàn chân. Càng đến gần mé nước, cát càng mềm mại, mát rượi, len vào từng kẽ chân và cả vào tâm hồn. Mỗi lần đặt chân lên cát, tôi thấy như được rửa sạch những lo toan nhỏ nhặt; mỗi hạt cát khắc một ký ức dịu êm vào lòng và gợi tôi nhớ về tuổi thơ, những chiều dắt trâu ra đồng, chân lội bùn mát lạnh in dấu trên mặt đất.
 
Từng bước trên cát Coronado như đưa tôi trở về, không hẳn vì cảnh vật giống nhau, mà vì cái gần gũi lặng thầm giữa thiên nhiên và lòng người. Mỗi chiều là một bức tranh mới: đôi tình nhân ôm nhau, em bé nhảy sóng, người chụp ảnh bên hàng dừa; khi mặt trời khuất, ánh đèn flash chớp lên như cố lưu giữ thêm vài khoảnh khắc cuối ngày.
 
Bãi biển Coronado thoai thoải hiền hòa; từ trẻ nhỏ đến người già, người biết bơi hay không, ai cũng có thể nô đùa với sóng hoặc nằm dài trên cát phơi nắng. Sau khi quen đi chân trần, tôi vẫn thấy quanh mình có những người "quê mùa" như tôi ngày trước, khó chịu chỉ vì vài hạt cát chui vào giày; nhưng rồi chính những hạt cát ấy lại đem về cho tôi nhiều niềm vui và kỷ niệm.
 
Những sắc vàng của hoa Tần Ô mà tôi từng bấm máy lưu giữ cho mấy đứa cháu nội nay đã nhường chỗ cho biển xanh, cát trắng và tiếng reo vui rộn ràng của hai đứa trẻ lớn lên bên tôi. Không đứa nào sợ nắng như bà, cũng chẳng ngại gió; ra đến biển, chúng như tan vào sóng: chạy không biết mỏi, miệng cứ thế hét vang, nhảy ùm xuống nước, rồi ngồi bệt nhặt vỏ sò, đuổi theo chim hải âu, tìm ông nội, thậm chí đòi chạy đua cùng ông.
 
Coronado gợi tôi nhớ những bãi biển quê nhà: Vũng Tàu với con đường cát trắng thoai thoải, Nha Trang với hàng dừa nghiêng bóng, Đà Nẵng chiều xuống rì rào tiếng sóng. Ở mỗi nơi màu nước, loại gió khác nhau, nhưng đều có điểm chung: gió mằn mặn thấm vào da thịt, tiếng sóng như nhịp tim biển cả, và hạt cát dưới chân lấp lánh như vụn vàng mặt trời. Giữa Coronado, tôi vừa thấy mình đứng ở một miền đất mới, vừa chạm lại những mùa hè đã xa.

Linzy, vốn quen xưng mình là "chị Hai", đứa cháu nội đầu lòng, sinh ra đúng vào năm tôi tròn sáu mươi. Sự vào đời của cháu ngày ấy là một nỗi lo lớn không chỉ riêng vợ chồng tôi mà cả bên sui gia cũng phập phồng theo dõi từng ngày. Linzy chỉ nằm trong bụng mẹ sáu tháng mười ba ngày; hình hài đỏ hỏn, bé xíu, nặng vỏn vẹn một ký năm gram. Cháu được đặt vào lồng kính như cái bụng mẹ bằng thủy tinh để giành giật từng hơi thở với sự sống. Suốt hai tháng trời cả nhà chỉ còn biết âm thầm cầu nguyện, mong sao chút sinh khí mong manh kia đủ vững vàng để bám trụ với cuộc đời. Mãi đến ngày được phép đón cháu về, ai nấy mới thở phào nhẹ nhõm như vừa vượt qua một trận bão lớn. Vậy mà giờ đây cháu đã tung tăng trên bãi biển, vừa cười vừa thách đố:
 
- Ông nội bắt con đi!
 
Còn tôi tha hồ bấm máy, lưu lại từng khoảnh khắc để mai này, khi các cháu lớn lên, chúng biết rằng đã từng có ông bà nội bên cạnh. Cái túi vải tôi luôn đeo trên vai mỗi lần ra biển chẳng có gì nhiều: áo quần khô, khăn tắm, nước uống, bánh mì, bánh ngọt, không dư thừa nhưng đủ cho một buổi dạo biển ấm áp. Mỗi lần nhìn cháu chạy nhảy, lòng tôi như tan chảy; tôi biết mình may mắn khi còn được chứng kiến và giữ lại những khoảnh khắc ấy.
 
Một hôm thấy tôi cầm vài chiếc lông chim hải âu đen trắng, Lya, cái tên bố mẹ đặt với ý nghĩa Love, You, Always, tròn xoe mắt hỏi:
 
- Bà nội nhặt mấy cái lông chim này làm chi vậy?
 
Tôi mỉm cười:
- Để khi cần vẽ mấy nét nhỏ thiệt nhỏ lên mấy bức tranh bà đang tô trên tường nhà.
 
Lya thích thú cầm lấy, rồi lượm thêm những mảnh sò bé tí, dúi vào tay tôi bảo cất vô túi. Có lần tôi nhặt được một chai rượu nhỏ, ngắt vài bông hoa dại bỏ vào, đưa cho cháu gọi là "bình bông du mục"; Lya ôm bình hoa cười khúc khích như nhận một món quà kỳ diệu.
 
Còn Linzy thì thích đắp cát lên người, múc nước đổ vào hố cát, vẽ số vẽ chữ bằng tay, những con số và chữ cái tôi mới dạy ở nhà. Một buổi chiều, khi đang đi dọc theo dãy đá, Linzy reo lên:
 
- Nội ơi, con thấy một cái baby lake!
 
Tôi nhìn theo ngón tay cháu: một vũng nước nhỏ trong veo nằm gọn trên phiến đá, khuất sau bụi cỏ. Trong mắt cháu đó là cả một cái hồ bí mật. Ba bà cháu rửa tay, rửa sò, hai đứa cháu nhúng cả đôi bàn chân bé xíu vào; Linzy mắt sáng rỡ:
 
- Linzy là người đầu tiên tìm ra cái hồ baby bí mật này! Từ nay con khỏi cần đứng chờ rửa chân ở vòi nước nữa nghen nội!
 
Lya phụng phịu:
 
- Chị Ba cũng thấy giống như chị Hai mà!
 
Tôi xoa dịu:
 
- Vậy cái "baby lake" này là của cả hai: chị Hai lẫn chị Ba.
 
Nhìn hai chị em hồn nhiên cười khúc khích, dẫm chân xuống vũng nước nhỏ trong đá, lòng tôi chợt nhớ tới một câu hát cũ khiến lòng se thắt: Bây giờ trong cái nón sắt của anh để lại trên bờ lau sậy này, chỉ có một con ễnh ương mượn vũng nước mưa đọng trong đó làm hồ. Trong cái nón sắt của anh bây giờ vẫn có đủ trời, vẫn mây hiền hòa trôi và bốn mùa vẫn về. Xuân muôn thuở dịu dàng, Đông rét lạnh, Thu khi xám buồn, khi rực vàng nắng quái, Hạ cháy lửa nung trời... Chiếc hồ nhỏ trong chiếc nón sắt bỏ quên giữa bờ lau sậy có thể là dấu tích cuối cùng của một người lính không trở về; còn cái hồ nhỏ hôm nay trên bãi đá Coronado là mảnh trời tuổi thơ lấp lánh, nơi sự sống tiếp tục nảy mầm qua tiếng cười của trẻ con, hai đứa cháu tôi.
 
Tôi không biết người chiến sĩ đã để lại chiếc nón ấy giờ ở đâu, có thể chỉ còn là một cái tên khắc trên bia đá. Nhưng tôi biết chính sự hy sinh lặng thầm của họ đã vun bồi cho buổi chiều bình yên này, với đứa cháu ôm "bình bông du mục" cười khúc khích, như thể cả thế giới chỉ còn lại niềm vui. Lòng tôi bỗng nghẹn lại trước hình ảnh quá khứ và hiện tại gặp nhau trong một khoảnh khắc mỏng manh, nhưng đầy ắp ơn nghĩa và tình người.
 
Chiếc hồ trong chiếc nón sắt và chiếc hồ trên bãi đá, hai hình ảnh, hai giai đoạn lặng lẽ nối nhau qua những thế hệ. Và tôi, người từng đi qua khói lửa, giờ bên cháu mình, thấy lòng ấm lại. Trong ánh hoàng hôn nhạt màu, tôi thầm cảm tạ Ơn Trên và gọi tên những người vô danh đã để lại cho đời những vũng nước nhỏ để cháu con mai sau có nơi in dấu bàn chân đầu đời. Bãi biển Coronado, trong khoảnh khắc ấy, hiện lên như một phép ẩn dụ cho những điều quý giá âm thầm ẩn mình giữa đời sống, chờ một bàn tay nâng niu để bừng sáng.
  
Sapy Nguyễn Văn Hưởng
 
Chú thích của TG: Viết theo lời kể của bà nội để riêng tặng vợ tôi và hai đứa cháu nội. 
 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.