Hôm nay,  

Đôi Mắt Xếch

14/01/202614:30:00(Xem: 3388)
minh hoa Đinh Cường
Minh họa: Đinh Cường

 

 

Khi quân Bắc tràn vào miền Nam, tôi còn độc thân và ở chung với cha mẹ và gia đình anh tôi. Tôi ở trong quân ngũ nên ít khi về nhà.

 

Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.

 

Tôi lang thang mãi cuối cùng một người bạn thân từ thời Trung Học cho tôi một cái ghế bố nhỏ kê bên chái hiên nhà anh, chái hiên khá rộng cho một cái ghế bố và một góc sát bếp có thể treo quần áo và hai cái thùng cạc tông đựng đồ cá nhân. Ngôi nhà trên thì cán bộ ngoài Bắc vào chiếm, cho gia đình anh, hai vợ chồng và hai đứa con gian nhà ngang sát bếp. Anh tử tế vừa chỉ bảo vừa giúp tôi thuê ngày (thuê ngày nào trả tiền ngày đó) một chiếc xích lô để kiếm sống. Tôi đã mất hết chẳng còn gì nhưng còn mạng sống là còn muốn tìm lại gia đình mình.

 

Tôi gặp thằng bé trong một buổi chiều nhá nhem tối, khi tôi ghé vào cái quán cơm bình dân để ăn bữa cơm chiều. Cái quán chuyên bán thức ăn cho người lao động, những anh xe ôm, anh xích lô, những thằng bé lem luốc, mồ côi tại chỗ, chạy đầy đường kiếm sống mà thường không biết chúng làm gì để kiếm sống. Thằng bé bước vào quán với những bước đi không vững, nó ghé sát bà bán quán, chìa tay ra một số tiền, chắc là vừa đủ cho một bát cơm hẩm không thịt, cá. Tôi nhìn cái lưng áo rách bươm của nó mà chạnh lòng, nó còn khổ hơn mình. Thằng bé nhận phần cơm quay ra, tôi chết sững khi chạm mắt mình vào đôi mắt nó, đôi mắt của anh tôi, tôi không thể nào nhầm được, đó là thằng con thứ hai của anh tôi, nó có đôi mắt giống hệt mắt của anh tôi… không thể nào nhầm được. Tôi nhớ khi người miền Bắc tràn vào Nam tôi bị đi cải tạo, cháu tôi lên 8. Bây giờ nó khoảng 11,12 tuổi, tên nó là Hòa.Thằng bé ngửng đầu lên chạm vào mắt tôi, nó sựng lại một giây, rồi cúi nhìn xuống đất, tay cầm bát cơm đi nhanh ra cửa. Tôi đứng phắt dạy chạy theo nó, nhưng hình như nó biết có người đuổi theo, nó trốn ngay vào một con đường hẻm nào đó gần nhất mà tôi tìm không ra.

Tôi lủi thủi bỏ cả bát cơm tìm về chỗ trọ của mình. Cả đêm lăn qua lăn lại trên cái ghế bố, tôi không thể ngủ lại được. Nếu nó đúng là cháu mình thì sao nó phải chạy trốn, nó phải vui vì nó gặp lại được một người thân chứ? Cả trăm câu hỏi cứ trong đầu tôi, lăn qua lăn lại mãi, tôi vẫn không thể ngủ được, hình ảnh thằng bé với đôi mắt rất đẹp cứ hiện ra trước mặt tôi.Đôi mắt to và hơi xếch của anh tôi và cháu tôi chỉ hai người trong gia đình có. Cha tôi nói: Họ thừa hưởng đôi mắt của Ông Cố, nhưng ông Cố chúng tôi mất từ khi Cha tôi còn rất trẻ mà nhà tôi chỉ có hình ông Nội, chứ không có hình ông Cố.

Sau lần gặp đó thằng bé biến mất, không hề thấy nó tìm đến quán cơm. Tôi hỏi mấy thằng bé lang thang cũng cỡ tuổi nó về “một thằng bé có đôi mắt xếch” thì mấy đứa nhỏ này cũng không biết tại sao nó biến mất. Chúng cho biết là “thằng mắt xếch” đó ít chơi với chúng và thường đi một mình. Thỉnh thoảng lại biến mất, rồi lại hiện về, nhưng nó thích nhất là đi về phía biển. Hay Chú ra đó tìm thì may ra thấy nó.

 

Tôi cứ ngày ngày vừa chạy xe kiếm sống vừa ráo rác tìm cháu, thấy đứa trẻ nào trạc tuổi nó, tôi cũng cố vượt lên nhìn tận mặt, rồi thất vọng.

Từ chỗ tôi ra biển cũng gần một cây số, nếu tôi muốn đi tìm cháu, thì không thể ở đây được, mà ở đây thì không thể vừa đạp xe kiếm sống vừa tìm cháu.

Cuối cùng tôi trả xe, giắt một ít tiền còn sót lại, đi về phía biển. Muốn ra sao thì ra, phải đi tìm cháu đã. Bây giờ cả thế giới này chỉ còn hai chú cháu, tôi phải tìm cho ra, vì tôi không biết gia đình anh tôi có thoát được tới bờ bến an bình nào không, hay đã làm mồi cho cá?

 

Tôi đi về phía biển mất hai ngày, tôi may mắn kiếm được việc dọn dẹp bãi cho những quán ăn sát bờ biển. Nhờ chăm chỉ và sạch sẽ nên tôi không bị thất nghiệp. Các quán ăn giới thiệu tôi cho nhau.

 

Tôi vừa làm việc vừa để ý tìm cháu. Một hôm tôi đang lúi húi dọn rác, khi ngửng lên tôi thấy một cặp vợ chồng trẻ, chắc vừa ở xa tới, họ bước vào quán, theo sau có một thằng bé rách rưới xách cái vali to hơn người, đi xiêu vẹo, Tôi nhìn kỹ thì đúng là “thằng bé mắt xếch”. Tôi vội vàng nghiêng người đi một chút để nó không nhìn thấy tôi,rồi vơ đống rác vào thùng, xong tôi chuồn vào trong bếp, nhìn qua khe cửa và nhìn ngắm từng nét trên mặt nó: “Thằng mắt xếch, nó đúng là cháu tôi.

 

Cứ thế trong hai tuần liền tôi ngắm nghía nó làm việc qua khe bếp, đôi khi tôi bị la vì không nghe thấy tiếng chủ gọi. Tôi đi tìm cháu nhưng lại sợ cháu biết mình đi tìm sẽ chạy trốn như lần trước.

 

Bẵng di vài hôm tôi không thấy nó làm công việc đón khách, sách hành lý nữa. Tôi hỏi bà chủ quán, thì bà nói:

- Thằng bé mắt xếch đó nghe đâu nó có gia đình vượt biên chết ở ngoài khơi nên nó lâu lâu lại bỏ việc vài ba ngày ra ngồi nhìn sóng biển gọi tên những người thân trong gia đình và ngủ ngay trên bãi. Muốn tìm nó thì cứ đi vòng về phía bãi sau, nơi đó trước kia người ta khởi hành ra biển.

Tôi xin bà chủ cho nghỉ hai ngày. Tôi ra bãi sau tìm cháu….

 

Vào một buổi chiều biển rất êm, những con sóng nhỏ vỗ nhẹ vào bờ rồi lại rút ra. Tôi nhìn thấy cái lưng gày gò trong chiếc áo cũ rách.Cái lưng quay vào bờ, cái đầu còn xanh tóc bù xù úp mặt vào hai đầu gối.

 

Tôi ôm cháu vào ngực mình bằng cả hai tay, ngực áo tôi đầm đìa thấm những giọt lệ chẩy ra từ đôi mắt xếch, đôi mắt của ông Cố, của anh tôi và của cháu.

Tôi hỏi cháu:

-       Tại sao con lại chạỵ trốn Chú?

-       Tại Chú giống Ba con và rồi Chú cũng sẽ bỏ con nên con không muốn mình lại bị bỏ thêm một lần nữa.  Nó vừa nói vừa khóc.

 

Tôi ôm chặt cháu vào lòng, nói:

-       Không, không bao giờ Chú bỏ con, Chú sẽ ở lại đây, trên bờ biển này mãi mãi với con và nếu có đi đâu thì hai chú cháu mình đi với nhau. Đừng khóc nữa.

 

Sóng cứ theo nhau xô mãi vào bờ.Thằng bé nắm chặt tay chú bằng cả hai bàn tay nhỏ. Đôi mắt xếch rất đẹp của nó, đầm đìa lệ.

 

Trần Mộng Tú 

Cuối năm 2025 (Viết theo một giấc mơ)

 

 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.