Hôm nay,  

Ngứa

03/04/202600:00:00(Xem: 1888)

ngua

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

 
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.

Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.

Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì.

Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.

Không phải theo cách nhớ thương. Mà theo cách người ta nghĩ đến một đôi giày đã mang quen, vẫn còn dùng được, vẫn không rách, nhưng mỗi sáng xỏ vào là có cảm gì đó không vui, có vẻ hơi nặng hơn hôm qua một chút.

Linh không làm gì sai. Đó chính là cái khó.

Nếu cô ấy làm gì sai thì đơn giản hơn nhiều. Nhưng Linh vẫn gọi anh mỗi tối, vẫn nhớ anh không ăn được hành, vẫn gửi những tin nhắn buổi sáng với dấu chấm than theo kiểu người thật lòng chứ không phải người đang cố gắng. Và Khoa đọc những tin nhắn đó với cảm giác của người nhận quà mà trong lòng biết mình sẽ không giữ nhưng lịch sự đủ để mỉm cười, rồi đặt xuống. Quên.

Em không làm gì sai cả. Câu đó sẽ là câu đầu tiên. Sau đó là gì? Là sự thật: anh chán, anh muốn chia tay, anh không xấu nhưng cũng không đủ tốt để ở lại. Giả yêu là việc anh không muốn làm, vừa mất thời giờ vừa tăng thêm khó chịu. Không biết người khác sao, khi giả yêu mà phải hôn là một việc, ớn. Anh đã nói những câu đó bốn lần rồi: công việc bận, hai đứa không hợp, anh không xứng đáng với em. Lần nào anh cũng tin vào chúng trong lúc nói. Điều đó có nghĩa là anh thành thật. Hoặc có nghĩa là anh giỏi tự thuyết phục đến mức không còn phân biệt được đâu là lý do, đâu là cái cớ.

Nhưng những câu nói đó bị nước mắt của Linh trôi đi. Nan giải. Anh muốn chuyện xấu nhưng muốn làm tốt. Ngày mai, anh phải dứt khoát hơn. Nói thẳng rồi quay lưng. Đừng kịp thấy nước ướt.

Nhưng quyết định đó không làm cho ý nghĩ dừng lại. Nó vẫn xoay. Xoay tròn. Rối quá. Người nóng lên. Rồi anh cảm thấy ngứa sau lưng.

Lúc đầu chỉ là một điểm nhỏ, giữa hai bả vai, đúng chỗ tay không với tới. Anh cựa mình. Ngứa hơn. Cái kiểu ngứa không chịu đứng yên một chỗ, gãi chỗ này nó nhảy sang chỗ khác, như thể nó biết anh đang đuổi theo.

Anh nhìn quanh, thấy cái nĩa ăn cơm trên bàn đầu giường, còn lại từ tô mì khuya hôm qua. Bốn móng nhọn, cán nhựa. Anh đưa ra sau lưng, cào.

Ừ. Đó rồi. Chà, đã quá.

Nhưng chỉ một lúc. Ngứa chạy. Lần này chạy nhanh và chạy chia nhánh ra khắp nơi.

Bỏ cái nĩa. Hai tay gãi nơi này, cào nơi kia, trước ngực, bã vai, sau mông, háng, nách, cườm tay, bắp chân, gãi cuồng loạn.

Tụt hết vải trên người. Gãi điên.

Não anh, không mời, không báo trước, bỗng bật lên hình ảnh cô Tư ở quê. Anh nhớ năm anh mười hai tuổi, đứng ngoài cửa buồng nghe người lớn nói chuyện bằng giọng thấp. Bà cũng bắt đầu như thế này. Ngứa sau lưng. Rồi lan ra. Rồi da bắt đầu dày lên ở những chỗ kỳ lạ, ngón tay bà mất cảm giác dần, không phải mất đột ngột mà mất từ từ, như ánh sáng tắt trong một căn phòng mà người ta quên không vào.

Nhà anh không ai nhắc tên bệnh. Chỉ nói cô bị bệnh ngoài da rồi im lặng theo cách người ta im lặng về những thứ làm xấu mặt dòng họ. Mãi lớn anh mới hiểu. Phong. Cùi.

Khoa gần như ngồi bật dậy.

Không. Vô lý. Thời đại này rồi.

Nhưng sợ hãi không cần lô-gic. Nó chỉ cần một khe hở nhỏ, rồi tự mình rót vào. Đêm hai giờ sáng, một mình, đang ngứa sau lưng và khe hở đó đủ rộng.

Môt hộc tủ trong trí nhớ kín được kéo ra. Đêm đó, anh đang ngủ, giật mình dậy vì tiếng động. Bà cô Tư trần truồng vừa gãi vừa xối nước bên bờ giếng cho bớt ngứa. Cảnh hai tay vung múa, đôi chân nhún nhảy, tóc tai như bụi cây. Cô Tư trông kinh dị.

Khi độ kinh dị giảm xuống, thân thể của người phụ nữ tuổi ba mươi dưới ánh trăng lu nổi bật, hằn sâu trong tâm trí cậu trẻ.

Đây là lần đầu tiên Khoa nhớ cô Tư ngứa. Những lần trước anh nhớ thứ khác.

Não anh chạy theo đường ray của nỗi sợ với cái tốc độ mà bình thường anh dùng để lên kế hoạch, để thuyết phục, để quyến rũ: nếu đúng thì sao? Da sẽ dày lên. Ngón tay mất cảm giác. Khuôn mặt mà Linh thường vuốt ve mỗi tối, sẽ như thế nào? Công việc. Bạn bè. Những ánh mắt trên đường. Tất cả những thứ anh dùng để biết mình là ai. Nếu những thứ đó mất đi thì còn lại gì?

Câu hỏi đó đứng giữa bóng tối, Khoa không có câu trả lời.

Không phải vì câu hỏi quá khó. Mà vì anh chưa bao giờ nghĩ đến nó. Người ta không hỏi còn lại gì khi mọi thứ vẫn còn nguyên đó.

Anh cố nằm im. Ai đó bày, ngứa, càng gãi càng ngứa. Anh ráng nằm im. Hai chân móc vào nhau. Hai tay nắm chặt nhau. Lấy gân toàn thân.

Cơn ngứa tràn lên, thủy triều với đàn cua trên mặt da. Rồi đàn kiến cắn dưới làn da. Rồi bầy ong chíc vào những nơi hiểm. Anh lấy gân. Gồng cứng.

Đúng như họ nói, sau một hồi thịnh nộ, cơn ngứa phát tiết, nó từ từ dịu xuống. Chậm. Tưởng yên. Lại nổi lên tuy nhẹ hơn. Rồi dần.

Anh thở phào.

Đột nhiên, nhớ móng tay Linh khá dài, cứng và nhọn. Anh cười khẽ. Giá mà lúc ngứa có Linh bên cạnh. Cô sẽ căng, hoảng và gãi loạn xạ, gia nhập với hai tay của anh. Cô sẽ muốn ngứa giùm anh. Cô đã từng nói, cô muốn buồn giùm anh, khi anh thất nghiệp. A, con nhỏ này tốt bụng. Cảm giác ấm cúng khi hít hơi vào. Có lẽ, anh không nên nói lời chia tay.

Anh quyết định: sáng mai đi bác sĩ. Thử máu.

Quyết định xong, anh thở ra khá dài. Trong cái thở ra đó có một thứ gì đó hơi giống nhẹ nhõm, hơi giống xấu hổ.

Cảm giác nóng rát khắp người nhất là sau lưng và ngực.

Anh nhận ra móng tay mình dài.

Không phải dài bất thường. Chỉ là lâu không cắt, và trong bóng tối nhìn lại những mảng anh vừa cào lên da, những vùng đỏ, rướm hồng, không ngứa nữa nhưng hơi đau.  

Móng tay anh mọc âm thầm, anh không để ý. Nghĩ đến chuyện móng tay lén mọc. Rồi bất ngờ, chúng nó giải quyết chuyện ngứa. Không gì thừa. Không gì thiếu.

Đến lúc nên cắt móng tay. Anh mở ngăn kéo đầu giường. Không có cái cắt móng tay. Vào nhà tắm. Lục hộp đồ. Không có. Lục ngăn kéo bàn làm việc, túi áo khoác sau cửa, hộc tủ giày nơi không cất gì ngoài giày, ngăn bếp nơi không nấu ăn bao giờ, vẫn không có.

Phòng anh bừa bộn theo cái kiểu anh gọi là thoải mái: giày đây, sách đó, áo vắt qua lưng ghế, ly nước để lăn lóc trên bàn cà phê. Anh quen nhìn qua nó, đi qua nó, như người ta quen nhìn qua những thứ không còn thấy nữa vì thấy hoài. Nhưng lúc này, đang lục, anh nhận ra rằng mình không biết bất cứ thứ gì của mình ở đâu.

Anh đạp lên chiếc tất, trợt chân, ngã.

Không nặng. Hông đập xuống sàn gỗ, đau nhói một cái rồi lan ra thành âm ỉ. Anh nằm yên. Không phải vì đau quá không đứng được, vì cảm giác mệt mỏi. Nằm đâu cũng được.

Bên ngoài, thành phố vẫn sống. Tiếng xe xa, tiếng gió qua khe cửa sổ không đóng kín bao giờ vì anh chưa bao giờ để ý sửa. Trong căn phòng, mớ đồ đạc vừa lục tung nằm im như bằng chứng. Cái nĩa bốn móng nhọn vẫn trên giường.

Kỳ lạ, mọi thứ đều có vị trí của nó đúng vào không gian và thời gian. Cho dù chúng bị xáo trộn, bị xô đẩy, vất bỏ, kể cả con người, mà vẫn đúng chỗ. Tồn tại. Kể cả cơn ngứa, chọn xuất hiện đêm nay, mở lộ ra điều mà anh đã biết nhưng đêm nay thấy rõ thêm. Yêu không chỉ là cuồng nhiệt thân xác.

Anh bắt đầu xoay quanh sự kỳ lạ vừa khám phá. Một lát, ý nghĩ bắt đầu rối. Tại sao người ta lại muốn sắp đặt mọi thứ?  Hơi thở có cần phải sắp đặt hay lên kế hoạch không? Không cần sắp xếp gì cả, cứ trôi theo dòng chảy, đến đoạn cuối, anh sẽ ra sao? Hiện diện theo cách nào? Rối quá.

Rồi, mồ hôi. Người nóng lên. Cảm giác có thứ gì lăn tăn, một điểm nhỏ sau lưng, giữa hai bả vai. Bắt đầu.
 
Ngu Yên 
 

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.