Hôm nay,  

Nợ Ân Tình Với Quê Hương Đã Trả Xong

15/08/202611:03:00(Xem: 1427)

(Bài viết để tưởng nhớ đến Thi sĩ Phi Loan-Hoàng Thị Cỏ May)

 

CMH

 

Một buổi chiều mùa Hè tháng Tám, khi được tin của gia đình cho biết chị Phi Loan đã được đưa về nhà vì bác sĩ cho biết không còn cơ hội qua khỏi sau khi điều trị ở bệnh viện, chúng tôi lập tức hẹn nhau đến để mong có dịp gặp chị lần cuối. Thật đau lòng khi chứng kiến chị trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của những người thân trong gia đình và bè bạn. Mặc dầu đã chuẩn bị tinh thần cho sự chia tay này, nhưng chúng tôi cũng không khỏi xúc động, bàng hoàng.

Ngày 12 tháng 8, cũng đúng ngày này một năm về trước, thân phụ của chúng tôi cũng đã vĩnh viễn rời xa chúng tôi. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng nỗi buồn càng thêm đong đầy trong lòng.

 

Bao nhiêu kỷ niệm về chị lần lượt hiện về trong tâm trí, như một cuốn phim quay chậm. Nhớ ngày nào khi Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ mới được thành lập vào năm 2010, chị là một trong những thành viên đầu tiên đến tham gia và tiếp tục sinh hoạt cho đến ngày chị ra đi. 16 năm, một chặng đường với biết bao là kỷ niệm.

Chị cũng là một trong những thành viên đầu tiên trong ban hợp ca của CLB Tình Nghệ Sĩ, với những lần đầu tiên xuất hiện trong những chương trình sinh hoạt của cộng đồng với vỏn vẹn chưa đầy 10 anh chị em. Rồi sau đó, khi có thêm nhóm múa của CLB Tình Nghệ Sĩ, chị cũng là một trong 4 thành viên kỳ cựu đầu tiên cho đến hôm nay với hơn 30 anh chị em.

 

Nhắc đến chị, là nhớ đến một hình ảnh thật bình dị, với dáng người nhỏ, gầy ốm, nhưng bên trong là sự bền bỉ, bao dung và luôn mong muốn mang đến tình thương, niềm vui và sự gắn bó dành cho những người xung quanh.

 

Ngoài những năm tháng gắn bó sinh hoạt với các anh chị em trong CLB Tình Nghệ Sĩ, chị cũng được cộng đồng người Việt ở hải ngoại biết đến với giọng ngâm thơ "có một không hai" hòa trong tiếng sáo của Nghệ sĩ Ngọc Nôi. Các anh chị em thường gọi đùa là ngoài thi sĩ, chị còn là một "ngâm sĩ" nổi tiếng nữa.

Trong những chương trình Hội Chợ Tết của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở Nam Cali, chị thường tham gia trong nghi thức khai mạc trong Đoàn Rước Thành Hoàng của CLB Hùng Sử Việt, cũng như trong Ban Tế Lễ của chương trình Giỗ Tổ Hùng Vương do Hội Cao Niên Á-Mỹ tổ chức hàng năm.

Nhớ lại những năm đầu khi CLB Tình Nghệ Sĩ mới thành lập lúc Nhạc sĩ Anh Bằng còn sinh tiền, ông luôn gần gũi và góp nhiều ý kiến cho chúng tôi trong các sinh hoạt của CLB Tình Nghệ Sĩ. Một trong những lời khuyên của ông là CLB Tình Nghệ nên có những chiếc áo dài đồng phục khác nhau, làm nổi bật nét tươi trẻ và đổi mới của một ban hợp ca so với các ban hợp ca khác, hay với các hội đoàn hoặc những ban hợp ca của các chị cựu học sinh trong các trường trung học. Với ý tưởng đó, Ngọc Bích đã cố gắng tìm những kiểu mẫu áo dài thật đẹp và đặc sắc để tặng cho các chị em trong ban hợp ca của CLB Tình Nghệ Sĩ. Cảm động trước tấm lòng của Ngọc Bích, chị Phi Loan đã sáng tác bài thơ "Áo Dài Em Tặng" thật dễ thương tặng cho Ngọc Bích và đã được Nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Những câu thơ trong bài hát thật nhẹ nhàng, dịu dàng như tấm lòng của chị:

 

Áo dài em tặng mặc sáng mai

Rộn ràng trong nắng ý vơi đầy

Là chút tình thương trao về chị

Là duyên trong mắt thoáng trời mây...

(Áo Dài Em Tặng - Thơ: Phi Loan, nhạc Anh Bằng, ca sĩ: Kimberly Đỗ)

https://www.youtube.com/watch?v=0fA1MmD6ofY

 

Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.

 

Một kỷ niệm thi ca giữa chị và tôi là bài hát "Mắc Nợ" mà chị đã chọn trao cho tôi để phổ nhạc bài thơ cùng tên này. Tôi biết chị đã sáng tác rất nhiều bài thơ về quê hương, đất nước, về biến cố 30 tháng 4 với những đau thương, mất mát của cả dân tộc Việt Nam, trong đó có chị. Một cô giáo hiền hòa từ miền đất đỏ Buôn Mê Thuột, tưởng chừng cuộc đời sẽ hồn nhiên, bình dị với cuộc tình thật thơ mộng như đóa hoa rừng cùng người tình là một người lính Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng cuộc chiến khốc liệt với cuộc di tản đau thương trên đường tỉnh lộ 7B vào tháng 3 năm 1975, mà chị là nhân chứng đã tận mắt chứng kiến tất cả những khốn khổ tận cùng và mất mát của dân tộc với những xác người vô tội nằm lại bên bìa rừng, những xác người trên đập sông Ba oan nghiệt, hay những người bị thương nằm la liệt với tiếng khóc than ai oán được chị ghi lại trong bài viết "NGƯỜI ĐÀN BÀ TRÊN TỈNH LỘ 7B". Rồi biến cố 30 tháng 4 đã gây ra bao nhiêu oan nghiệt cho dân tộc Việt Nam, trong đó có chị với cuộc tình ly tán đầy đau thương và nước mắt...

 

Chị kể cho chúng tôi nghe câu chuyện giữa lúc khốn cùng của đoàn  người di tản trên đại lộ 7B, những người lính Việt Nam Cộng Hòa như những thiên thần che chắn và bảo vệ cho dân. Những người lính ấy đã không bỏ dân mà tình nguyện ở lại làm cầu cho người dân qua con sông Ba định mệnh, khi mà phía sau lưng là những viên đạn của phía bên kia đang bắn tới. Với những ký ức đó, chị luôn mang ơn một đất nước và một dân tộc Việt Nam hùng anh, những lính Việt Nam Cộng Hòa và đó là món nợ lớn mà theo chị chúng ta không bao giờ trả hết, qua những lời thơ trong đoạn mở đầu trong bài thơ "Mắc Nợ".

 

Mắc nợ quê hương nặng trái tim

Da vàng máu thắm giống Tiên Rồng

Nợ lòng chung thủy cùng dân tộc

Nợ khúc ân tình, ôi non sông!

 

Đó là lý do chị rất trân quý bài thơ này và mong tôi giúp phổ nhạc thành bài hát để có thể lưu lại, nhắc nhở đến thế hệ mai sau. Tôi hứa với chị sẽ cố gắng trong khả năng của mình để không phụ lòng tin của chị. Càng đọc nhiều lần bài thơ, tôi càng hiểu thêm về tấm lòng của chị dàn trải qua từng câu thơ trong bài thơ này. Dù xa quê hương, nhưng trong tim người con gái đất Buôn Mê Thuột vẫn luôn canh cánh bên lòng những kỷ niệm, hình bóng của quê nhà. Nơi đó, có những con đường đê nhỏ, những lũy tre xanh, những cánh diều bay trong gió, ... mà trong lòng của chị vẫn mang nặng một mối nợ ân tình da diết dành cho quê hương mà chị phải ngậm ngùi bỏ lại sau lưng. Đó có lẽ cũng là đông lực mà chị luôn cố gắng tham dự những chương trình văn hóa xã hội bất cứ lúc nào chị có thời gian, mang tài năng ngâm thơ những ca khúc về quê hương.

 

Mắc nợ dòng đời yêu dấu ơi

Con đường đê nhỏ lũy tre xưa

Hồn mộng vờn cánh diều trong gió

Bay ngược về tìm tuổi ấu thơ...

 

Điều mà cá nhân tôi luôn quý mến ở chị và xem chị như một người chị lớn là những lời tâm tình và động viên chân tình và sâu sắc. Với một chặng đường 16 năm mà CLB Tình Nghệ Sĩ đã đi qua, chúng tôi cũng phải trải qua những thăng trầm, từ những sự ganh tị, dèm pha, chia rẽ, từ trong nội bộ đến bên ngoài, tuy nhiên, rất may mắn là bên cạnh chỗ tựa tinh thần của người bạn đời là Ngọc Bích, chúng tôi có những người như chị Phi Loan. Với kinh nghiệm từng trải trong cuộc đời, chị nhẹ nhàng khuyên chúng tôi cố gắng tiếp tục công việc và mục đích mà CLB Tình Nghệ Sĩ đã đặt ra từ ngày đầu thành lập, giữ tinh thần lạc quan trước những khó khăn, miệng đời cay đắng của thế gian, để lèo lái con thuyền của CLB Tình Nghệ Sĩ trên bước đường phục vụ cộng đồng, bảo tồn văn hóa và đào tạo thế hệ trẻ gìn giữ cội nguồn. Như một hoa "cỏ may", bên trong sự mộc mạc, bình dị đó của chị là sự bền bỉ, kiên quyết và một nhân sinh quan thật đẹp mà chúng tôi có dịp gần gũi và học hỏi nơi chị, như những vần thơ trong bài "Mắc Nợ" này:

 

Mắc nợ trò đời lắm nhục vinh

Buồn vui tranh đoạt kiếp nhân sinh

Tinh túy nhuộm bao hồn sông núi

Mong vẹn nụ cười miệng thế gian

 

Với ý chí và tấm lòng đó, chị luôn cố gắng sắp xếp thời gian đến sinh hoạt với chúng tôi dù sức khỏe của chị không được như xưa. Có những buổi các anh chị em tập múa đến gần 12 giờ khuya, nhưng tôi không hề thấy chị than vãn mệt mỏi và trên môi chị luôn nở nụ cười hiền hòa. Dù có những bài tập của Vũ Sư Đình Luân đòi hỏi phải đứng lên, ngồi xuống nhiều lần, nhưng tôi thấy chị rất cố gắng để làm theo dù đôi chân của chị có lẽ đã yếu đi nhiều so với những năm trước đây. Đôi lúc thấy chị sụt sịt ho, phải quấn khăn trên cổ để giữ ấm, tôi thật ái ngại và lo lắng cho chị, nhưng dường như chị không bỏ một buổi tập nào.

 

Ban múa có thêm một số thành viên trẻ, có người gọi đùa chị là "Ngoại". Chị dường như không buồn trước cách gọi này, mà luôn đùa vui cùng các em trẻ, với tiếng cười thật giòn tan của chị khi pha trò, làm không khí của những buổi tập thêm vui tươi và bớt đi sự căng thẳng.

 

Mắc nợ truyền đời khối sắc son

Lòng sao vương vấn lệ tuôn tràn

Cùng chung một mối hờn vong quốc

Mong Việt Nam luôn mãi trường tồn

 

Đó là món nợ mà chị luôn ôm ấp trong lòng cho đến ngày chị ra đi, như hoa cỏ may luôn phảng phất một nỗi buồn dấu kín trong lòng. Nhưng chị Phi Loan ơi, chị đã sống thật trọn vẹn một cuộc đời đầy ý nghĩa, với tấm lòng bao dung, sự hy sinh, sự chia sẻ, v.v. mà chị dành cho những người xung quanh và cho cuộc đời. Chị không phải bận tâm vì chị đã trả xong món nợ cho sông núi, cho cuộc đời với những sáng tác, những bài viết, bài thơ, giọng ngâm thơ, những chương trình sinh hoạt văn hóa với các hội đoàn, những màn múa trình diễn cùng với các anh chị em trong CLB Tình Nghệ Sĩ. Các anh chị em nợ chị món nợ ân tình; những nụ cười, những câu chuyện vui, những lời khuyên của chị, những cố gắng của chị cùng chung tay phát triển, giúp đỡ và những chuyến lưu diễn đến một số chi nhánh của CLB Tình Nghệ Sĩ như anh Cao Thái Hải và Thi sĩ Cao Nguyên có nhắc đến, v.v. Nhìn những giọt nước mắt của những "đứa cháu" của "Ngoại" Phi Loan như Khánh, Eileen, Phụng, v,v, chúng tôi biết là hình ảnh và những kỷ niệm của chị với chúng em sẽ còn đọng lại rất lâu. Ngọc Bích, tôi và anh Phạm Hoàng thật cảm động khi đến thăm chị trong những ngày cuối ở bệnh viện. Chị nắm tay chúng tôi thật lâu và nói trong nước mắt là "Hưng và Bích ơi! Chị không giúp gì cho Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ được nữa...". Đến những giờ phút cuối khi linh cảm là mình sẽ ra đi, nhưng tấm lòng của chị vẫn nghĩ đến Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ. 

Mong chị được bình an yên nghỉ bên cạnh người Mẹ mà chị luôn kính yêu, thanh thản bay về bên những hàng tre, con đê, cánh diều của tuổi thơ và với ước mong "Việt Nam luôn mãi trường tồn" với tự do và nhân quyền cho người dân sẽ sớm trở thành hiện thực.

 

Vĩnh biệt chị.

 

-Cao Minh Hưng-

 

-​------

Mắc Nợ (Lời: Phi Loan, Nhạc: Cao Minh Hưng, Ca sĩ: Lan Hương & Xuân Thanh)

https://youtu.be/fooUjoMmLt8?si=6xg-587A7MaYQmNQ

 

Mắc nợ quê hương nặng trái tim

Da vàng máu thắm giống Tiên Rồng

Nợ lòng chung thủy cùng dân tộc

Nợ khúc ân tình, ôi non sông!

 

Mắc nợ dòng đời yêu dấu ơi

Con đường đê nhỏ lũy tre xưa

Hồn mộng vờn cánh diều trong gió

Bay ngược về tìm tuổi ấu thơ

 

Việt Nam ơi, ta mắc nợ người

Hình bóng Mẹ, dòng máu cha

Người yêu dấu, và bao người

 

Mắc nợ đời, ta nguyện sẽ trả

Bằng trái tim, bằng tấm lòng

Bằng ý chí, cho dân tộc

 

Mắc nợ trò đời lắm nhục vinh

Buồn vui tranh đoạt kiếp nhân sinh

Tinh túy nhuộm bao hồn sông núi

Mong vẹn nụ cười miệng thế gian

 

Mắc nợ truyền đời khối sắc son

Lòng sao vương vấn lệ tuôn tràn

Cùng chung một mối hờn vong quốc

Mong Việt Nam luôn mãi trường tồn

Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.