TRANG THƠ THỨ BẨY

05/08/202309:21:00(Xem: 4391)
Encre expérimentale (2015) - Li Chevalier
Encre expérimentale (2015) -- Tranh Li Chavalier.



QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM

 

ba khúc ngắn  

 

 

1.

sáng sớm ngày hè tản bộ bên bờ dốc thẳng đứng

mơ hồ nghe lời thì thầm bâng quơ

ngôn từ ngơ ngác  ̶ ̶ ̶  âm vọng tiếng chó sủa đêm qua   

 

hơn nửa đời lang thang không bài bản

ngàn cánh hạc chơi vơi

vụt thoát vụt hiện

cõi lai sinh ngoài tầm tay với

 

xuyên ống kính vạn hoa

đôi khi cắn răng nghe lòng tiếc nuối

thường khi tôi đói mà không ăn

đôi khi tôi ăn dù không đói.  

 

2.

chàng hát chàng hò

chàng ho chàng hóc

chàng nhảy nhót rậm rật

chàng hảng khoe cái mông

cái ngông của con chàng hiu

vừa làm một cú vượt thoát

từ lũ chàng bè

chàng ràng quanh quẩn.

 

3.

bạn xoa tay quả quyết:

"xyz" không cám

dỗ được quần

chúng là "xyz" dở

hơi gọi là "xyz" salon và không

phải là "xyz" xà lỏn 

 

cho rõ hơn bạn tiếp:

bây giờ mi có thể thay

thế "xyz" bằng "chính trị" hay

"văn hóa" hay

"nghệ thuật" hay

"thời trang" hay

"ẩm thực" hay

bất kỳ thứ gì mi muốn thử

nghiệm

 

tôi trầm ngâm ngậm miệng như hến  ̶ ̶ ̶ 

một ngày trong quán hến xào hội an.

 

***

 

THY AN

 

Những vần thơ khó nghe

 

vọng động rồi cũng chạy vòng vòng

vần ‘ong’ không mang lại thong dong

lãng mạn rồi cũng đi lang thang

vần ‘ang’ chứa quá nhiều hoang mang

‘ong’ ‘ang’ kêu như vòng vàng

chiếu sáng trên tay người giữa chợ

rung đùi ca hát thản nhiên

 

vần ‘âm’ nghe thật nhẹ trầm ngâm

vần ‘a’ nổi trôi những ta bà

la cà năm ba khúc ba hoa

mờ mờ nhân ảnh trên cành lá

 

vần ‘im’ máu vẫn chảy im lìm

con chim nhỏ bay về nhảy múa

tung tăng mấy độ trần gian mệt

vần ‘ô’ sao đầy cảnh lô nhô

 

vần ‘ao’ rung động cõi lao xao

vẫy chào bóng nhỏ trên đường lớn

đi về mời gọi bao nhiêu nữa 

vần ‘iêu’ thương tóc bạc tiêu điều…

 

Thơ. đầy như tiếng thở ra | Có khi khúc hát ngân nga tuổi chiều | Từ em thả một cánh diều | Bay về định hướng liêu xiêu tình buồn
Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương