vắng nhà | not home

23/11/202314:43:00(Xem: 7096)
ghe trong
Ảnh: từ trang fb Nguyễn Quí Đức

 
vắng nhà

 

những trái ớt chín, khô héo trên cành

bình hoa tulip trên bàn, gục đầu ủ rũ

căn phòng không màu không mùi không vui buồn

chỉ những nốt lặng, trào ra từ cây piano

đậy nắp

 

người chết không hót không bay không nhảy múa

con hạc mào đỏ* xếp cánh thôi mơ thôi thơ

con chó thất lạc buồn rầu

ngọn gió vô tâm, xào xạc

không tin nhắn

 

trên tầng mây kia hay dưới lòng đất này

chả nhằm nhò gì nữa

trong nghĩa trang tâm hồn kẻ ở

sự vắng mặt của người đi**

là phần mộ vĩnh hằng.

 

 

Nguyên Yên

----


not home

chili peppers, ripe and shriveled on the vine
tulips on the table, softly wilted
the room neither bright nor dark, neither happy nor sad
just quiet notes spilling out from the piano
lid closed

the dead don’t sing, don’t fly, don’t dance
the red-crowned crane* folds its wings, dreams no more
the dog - adrift - in soundless grief
the wind rustling - no longer
whispering

above the clouds or beneath the soil
it doesn’t matter now

in the graveyard of a soul left behind
your absence**
is an everlasting tomb.


Nguyên Yên

* ”I’d like to see you in a dream as a red crowned Manchurian crain, spreading your wings up there in a marvelleous and joyful dance…” – n.q.đ viết về cuộc-sống-sau-cuộc-sống.

** Nguyễn Quí Đức (1958–2023) passed away on November 22, 2023, in Vietnam. He was a broadcaster, writer, editor, and translator of Vietnamese-American heritage. Born in Đà Lạt, Vietnam, he came to the United States in 1975 and later returned to live in Hanoi in the fall of 2006.

 

* ”I’d like to see you in a dream as a red crowned Manchurian crain, spreading your wings up there in a marvelleous and joyful dance…” – n.q.đ viết về cuộc-sống-sau-cuộc-sống.

** Nguyễn Quý Đức (1958-2023), từ trần ngày 22/11/2023 tại Việt Nam. Ông là nhà phát thanh, nhà văn, biên tập viên và dịch giả người Mỹ gốc Việt. Nguyễn Quí Đức ra đời tại Đà Lạt, Việt Nam, ông sang Mỹ năm 1975 rồi về sau trở về sống ở Hà Nội vào mùa thu năm 2006.

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ