Hôm nay,  

Gia Trung Tứ Lão

09/09/202207:27:00(Xem: 4172)

2000-vvnm-ng-v-khanh-gray

LTS:  Nhân ngày Việt Báo tròn 30 tuổi, xin trích lại bài viết của cố nhà báo kỳ cựu Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Ông là vị chủ biên sáng lập Việt Báo, và là chánh chủ khảo đầu tiên của giải thưởng Viết Về Nước Mỹ.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh sinh ngày 2 tháng 10 năm 1921. Làm báo từ năm 1948, Ông là nhà báo chuyên nghiệp đã sống liên tục với nghề báo suốt 74 năm. Ông từng du học và tham quan về truyền thông tại Nhật Bản và Hoa Kỳ, thời Việt Nam Cộng Hoà, ông là Tổng Thư Ký Việt Nam Thông Tấn Xã, đồng thời là giáo sư dạy về báo chí tại các Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Đà Lạt, người thầy của nghề báo Việt Nam.

Sau hơn 12 năm tù cộng sản, năm 1992, ông cùng vợ rời Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với các con tại San Jose, khi đó Ông đã qua tuổi bẩy mươi, có thể an nhàn nghỉ ngơi bên cạnh con cháu. Nhưng êm ấm mới được dăm ba tháng, chuông điện thoại lại reo.- “Lão Nhị, làm báo lại nhé.” – “Làm thì làm. Sợ gì.” – “Lão Nhị phải xách cái túi xuống ở luôn dưới này. Xuống được không” – “Cái gì? Cái này... Hà hà... để coi, Lão Tứ.” (Lão Nhị-Lão Tứ là cách thức xưng hô trong tù của Ông và nhà thơ Trần Dạ Từ, người cùng nhà văn Nhã Ca sáng lập tờ Việt Báo năm 1992).

 

Chỉ vài ba ngày sau, với một cái túi nhỏ trên tay, Ông cười cười xuất hiện tại Little Saigon. Và từ thứ Bảy ngày 5 tháng 9 năm 1992, Việt Báo Kinh Tế ấn hành số đầu tiên. Liên tục suốt 20 năm, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh giữ mục bình luận “Việt Báo: Trước Thời Cuộc” cho tới những năm tháng cuối đời.

Ông viết bài này vào mùa xuân năm 2005, nhắc đến các văn nghệ sĩ cầm bút của miền Nam: “Cộng sản đã bắt nhốt các văn nghệ sĩ. Nhưng có gông cùm nào nhốt được cái chí chim bằng, có xiềng xích nào trói được trái tim sư tử. Thân bị nhốt trong nhà giam chật hẹp, nhưng tư tưởng của nhà văn có cả một không gian rộng lớn vô tận vô biên để tự do vẫy vùng.” 


Vị cố nhà báo có “chí chim bằng và trái tim sư tử” của chúng ta từ trần tại tư gia vào ngày Chủ Nhật, 12 tháng Tám năm 2012, hưởng thọ 92 tuổi. Với 92 năm sống và 74 năm cầm bút, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh là tấm gương tiêu biểu phẩm giá của người làm báo, tỉnh thức và chân thực. Khi thanh thản ra đi, ông gửi lại cho tương lai niềm tin vào con người và lý tưởng tự do, dân chủ. 

 

***

Vào dịp Xuân mới, tôi muốn ôn lại một chuyện cũ. Đó là chuyện Tứ Lão ở trại tù Cải tạo Gia Trung, nơi giam giữ phần đông các văn nghệ sĩ năm xưa. Trong thời miền Nam Việt Nam còn được sống tự do dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, các nhà văn nhà báo thường ít khi có dịp gặp nhau, nếu có là trong khoảng thời gian ngắn của các dịp lễ tết hay họp báo, hoặc ngắn hơn nữa là dịp tao ngộ qua tách cà-phê ở nhà hàng để rồi sau đó, vội vã người nào việc nấy đi làm phận sự riêng. Nhưng sau khi Saigon sụp đổ, nhờ ơn Bác và Đảng các văn nghệ sĩ bị lùa đi cải tạo theo kiểu “tam cùng” (cùng ăn cùng ở cùng làm), chúng tôi đã có dịp gặp nhau hàng ngày trong nhiều năm liên tiếp, tạo thành mối quan hệ khắng khít với nhau hơn trước rất nhiều.

 

Hoàn cảnh những người văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam trong trại tù cải tạo Gia Trung, gần Pleku, có lẽ khắt khe hơn những thành phần khác, nên đã có một bài thơ nhiều anh em đã biết, tôi xin nhắc lại như sau:

 

“Cây sậy chân tay quều quào của chúng ta,

“Có thể hết bưng nổi cái sọ dừa cứng đầu,

“Nguyễn. Và Nguyễn. Và Nguyễn nữa. Sắp chết.

“Sắp đến lượt Lưu. Đến lượt Doãn. Đến lượt Lê.”

(Nguyễn và Nguyễn là nhà báo Nguyễn Viết Khánh và nhà văn Nguyễn Sĩ Tế. Lưu là nhà văn Mặc Thu Lưu Đức Sinh. Doãn là nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Lê là người làm thơ, tức Lê Hà Vĩnh bút hiệu Trần Dạ Từ).

 

Chính trong bối cảnh gần đất xa trời đó, nhóm Gia Trung Tứ Lão ra đời. Chúng tôi đã nhiều lần nhắc đến bộ Tứ này. Nay vì trong bốn đã có hai ra đi, tức đã mất đi một nửa nên chúng tôi muốn nói rõ hơn chuyện này một chút để tránh mọi sự hiểu lầm. Việc thành lập nhóm Tứ lão không phải là chuyện cố ý để tách rời khỏi các anh chị em văn nghệ sĩ khác mà chỉ do một sự tình cờ, đúng hơn là một cái “duyên”. Chúng tôi cũng không uống máu ăn thề hay họp nhau theo kiểu Đào viên kết nghĩa vì làm như vậy là tự cho chân vào cùm trong biệt giam.

 

sd nvk
Từ trái: Mặc Thu Lưu Đức Sinh - Nguyễn Sỹ Tế - Trần Dạ Từ Ký họa CHÓE



Tứ Lão có Lưu Đức Sinh, Nguyễn Sĩ Tế, Trần Dạ Từ và tôi. Tôi được biết nhiều hơn như một ký giả, nhưng báo chỉ là cái vỏ, còn cái ruột vẫn là văn. Chúng tôi là giống đa tình, nhạy cảm. Và cái “duyên” gắn bó là cả bốn đều thích thơ Đường và chuyện chưởng, nên hay gặp nhau trong giờ nghỉ để đấu láo cho đỡ buồn. Đấu láo để có vẻ tếu, nhằm tránh cái nhìn soi bói của đám cán bộ công an coi tù cũng như đánh lạc hướng những tay sai “ăng-ten” nghe lén của chúng. Thật ra giữa những chuyện tếu, khi có thời cơ vắng người chúng tôi lại rỉ tai nhau về những chuyện cần cảnh giác trong trại, nhất là những tin tức bên ngoài do người nhà đi thăm nuôi lén cho biết.

 

Về Đường thi, chúng tôi đã có 3 người là nhà thơ, còn về chuyện chưởng tôi lãnh phần chính. Ở ngoài đời từ năm 1960, tôi đã từng dịch nhiều đoạn chuyện chưởng từ chữ Hán theo sách báo của Hong Kong, không phải vì tôi muốn kiếm thêm tiền mà vì thích chuyện chưởng. Bởi vậy tôi nhớ được các chuyện chưởng nên có thể “quay phim” những đoạn mà tôi cho là hay, tôi cũng bình luận theo kiểu Mao Tôn Cương đôi khi đượm vẻ tiếu lâm nên khi chúng tôi nói chuyện, nhiều anh em tù nhân khác cũng xúm lại nghe để rồi cùng phá lên cười ha hả, xôm trò vô cùng. Về việc dịch tiểu thuyết võ hiệp từ chữ Hán ra tiếng Việt, người tâm đắc với tôi nhất là anh Mặc Thu. Chúng tôi đều đồng ý về một điểm: Giỏi chữ Hán không có nghĩa là đã biết dịch chuyện chưởng cho hay. Dịch chuyện chưởng là phải thấu được ngôn ngữ và tác phong đặc biệt của tiếng Việt trong chuyện chưởng. Nếu không, chuyện chưởng Việt ngữ sẽ trở thành ngô nghê, lạc lõng và khó hiểu. Về điểm này tôi xin nói thêm tôi rất kính phục các vị dịch chuyện chưởng đi trước tôi vào thời đó như Hàn Giang Nhạn và Tiền Phong, tôi chẳng khi nào mạo muội muốn tranh tài với mấy vị đàn anh trong môn “võ công” này.

 

Vậy danh xưng “Tứ lão” ở đâu mà ra? Sự thật chúng tôi không bao giờ tự coi như một nhóm riêng nên không có chuyện đặt tên cho nhóm. Nhưng sau nhiều tháng họp thành thói quen như vậy, một hôm tình cờ tôi quay lại cuốn Thiên Long Bát Bộ, có đoạn nói đến Tứ đại ác nhân. 1)Đệ nhất Ác Đoàn Diên Khánh, Ác quán mãn doanh, 2)Đệ nhị Ác Diệp Nhị Nương, Vô Ác bất tác, 3)Đệ tam Ác Nam Hải Ngạc Thần, Hung thần Ác sát, 4)Đệ tứ Ác Vân Trung Hạc, Cùng hung cực Ác. Nên ghi nhớ hỗn danh của kẻ ác nhất có chữ Ác đứng đầu. kẻ ác nhì có chữ Ác đứng thứ hai, kẻ ác ba có chữ Ác thứ đứng thứ ba và kẻ ác bốn có chữ Ác đứng thứ tư. Cách dùng chữ của Kim Dung quả thật đã vào hàng cao thủ đệ nhất thiên hạ. Sau khi kể xong chuyện này bỗng có một bạn thính giả đứng ngoài xem nói: “Mấy ông có 4 người, vậy không giống tứ ác rồi sao”. Mọi người cùng rú lên cười và chúng tôi cũng cuời híp mắt, thích thú. Chuyện cuời nghe qua rồi bỏ mà. Hôm sau chúng tôi lại ngồi với nhau, nhưng trước khi định làm gì, không hiểu sao cả bốn bỗng im lặng rồi bốn cái mồm cùng nhếch ra cười và nói “Tứ Ác họp”. Chúng tôi đã bắt đầu yêu trò giễu này.

 

Vài ngày sau, Trần Dạ Từ nói: “Trong chuyện họ gọi Đệ nhất Ác là Lão Đại, vậy trong chúng ta ai là Lão Đại đây?” Chúng tôi đồng ý anh nào lớn tuổi nhất là Lão Đại. Mặc Thu và tôi xấp xỉ tuổi nhau, nhưng vì Mặc Thu có vẻ tiên phong đạo cốt, trông già hơn cả bọn nên tôi đề nghị Mặc Thu là Lão Đại. Mọi người hoan ngênh. Tôi là Lão Nhị, Nguyễn Sĩ Tế là Lão Tam và Trần Dạ Từ là Lão Tứ. Từ đó và cả sau khi ra khỏi tù Cải tạo, bốn danh xưng “ác” bám lấy chúng tôi khi nói chuyện với nhau. Bốn anh ác đó chỉ là “giả tưởng”, hoặc như về sau có anh nào bị ai - hay bà nào - gọi là ác thật, thì cố nhiên đó là chuyện cấm ngoại cuộc không ai được biết. Thật ra anh em chúng tôi đều hiền khô chớ không ác, nhưng mỗi người một vẻ khác nhau.

 

Trong bốn người, Nguyễn Sĩ Tế có vẻ đạo mạo nhất, ăn nói nhỏ nhẻ chậm rãi, ít khi nóng nảy lớn tiếng, anh giỏi chữ Hán hơn tôi nên tôi học được ở anh rất nhiều. Tác phong của anh đúng là một nhà mô phạm làm tôi liên tưởng đến một nhân vật trứ danh trong cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ. Đó là vị Thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương, ẩn dật trong một hang núi của đỉnh Hoa Sơn. Mặc Thu có vẻ tiên phong đạo cốt nên tôi thấy anh giống Trương Tam Phong, Chưởng môn nhân phái Võ Đang trong cuốn Ỷ Thiên Đồ Long Ký. Trần Dạ Từ giống anh chàng Quách Tĩnh trong cuốn Anh Hùng Xạ Điêu, võ công đầy mình nhưng lại rút về trấn ải thủ đồn, một tay điều binh khiển tướng để giữ sao cho thành (hay Tòa soạn) khỏi sập tiệm. Còn Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh thì sao? Tôi chỉ là một lãng tử đơn thân khăn gói quả mướp, xách kiếm đi hoang để.... “Tiếu Ngạo Giang Hồ”.

 

Cộng sản đã bắt nhốt các văn nghệ sĩ. Nhưng có gông cùm nào nhốt được cái chí chim bằng, có xiềng xích nào trói được trái tim sư tử. Thân bị nhốt trong nhà giam chật hẹp, nhưng tư tưởng của nhà văn có cả một không gian rộng lớn vô tận vô biên để tự do vẫy vùng. Trong những tháng tôi bị biệt giam, chân bị cùm đau nhức đêm ngày, cơ thể bị teo lại vì bị bỏ đói, cán bộ Cộng sản bảo tôi bị “bao vây kinh tế”, tức là một cách tra tấn không có dụng cụ cực hình để ép tôi phải khai ra những gì họ nghi là tôi biết mà không chịu nói. Lạ lùng thay lúc tôi tin tôi sắp chết lại lúc đầu óc tôi sáng tác được chuyện khoa học giả tưởng, chuyện hư cấu diễm tình mà sau khi ra khỏi biệt giam tôi có dịp kể lại cho các anh em trong tù nghe. Nhiều người tưởng đó là những tiểu thuyết tôi đã đọc từ trước khi đi cải tạo.

 

Tôi không phải là một người anh hùng. Nhà văn nhà báo không phải là những người anh hùng. Chúng tôi cũng biết sợ như bất cứ ai. Trong tù Cải tạo Cộng sản, bất cứ ai dù trước là ông quan, ông tướng, ông tá, khi đi lao động gặp lúc có những nhu cầu của cơ thể con người, tất cả đều biết chụm chân đứng nghiêm như lính, hướng về anh cán bộ mặt còn non choẹt để hô lớn: “Báo cáo cán bộ, xin phép cán bộ cho tôi đi tiểu”. Nếu không làm như vậy mà tự ý đi ra bờ ruộng bờ rừng, cán bộ quản chế sẽ nổ súng bắn bỏ không chút nương tay. Năm xưa nếu Hàn Tín không chịu nhục luồn chôn thì về sau làm sao có cơ hội làm Tướng và trả ơn bát cơm Phiếu mẫu? Ở tù Cộng sản cũng có những người tù anh hùng. Những người đó không trở về. Họ còn ở đó, trong lòng đất lạnh. Giờ đây những nấm mồ hoang đó có thể đã bị san bằng không còn chút di tích. Chúng tôi đã trở về.

 

Tứ lão đều đã đến được nước Mỹ. Lão Đại đến muộn nhất nhưng anh lại là người rời nước Mỹ sớm nhất và cũng ra đi vĩnh viễn sớm nhất. Năm 2002 Mặc Thu từ trần ở Việt Nam trong khi về thăm quê nhà. Tôi có duyên may được góp phần xây dựng tờ Việt Báo nên từ hơn 12 năm qua tôi và Trần Dạ Từ làm việc sát cánh bên nhau, ngay cả trong những năm gần đây tôi không còn ở Nam California. Riêng với anh Nguyễn Sỹ Tế, tôi ít khi được gặp anh. Nhưng tôi còn nhớ hình ảnh lần chót tôi tình cờ được thấy anh. Lúc đó khoảng năm 1997, tôi đang đi bộ trên vỉa hè đường Bolsa, chợt nhìn thấy Nguyễn Sĩ Tế đang chống gậy đi chầm chậm trên vỉa hè đường phía bên kia. Trông anh đã có vẻ yếu rồi, mắt đeo kính đen có vẻ thị lực cũng rất yếu. Tôi muốn chạy băng qua đường để nắm tay anh, nhưng qua làm sao được vào giờ đường Bolsa đông xe nhất. Giòng đời của nước Mỹ ồn ào và sống động đã ngăn cách anh và tôi. Bây giờ nghĩ lại, phải chăng điềm báo trước tôi nhìn thấy anh lần chót? Nguyễn Sĩ Tế không còn nữa.

 

Năm 2002, khi được tin Mặc Thu qua đời tôi viết bài “Thắp Nén Hương Lòng” để tiễn anh về chốn cửu tuyền.

Bài viết này cũng là một giọt lệ trong không gian trừu tượng để đưa anh Nguyễn Sĩ Tế về Thế giới bên kia, đến Văn miếu trên cao thẳm, nơi có những mộ bia ghi công đức của những bực thầy vĩ đại ở cõi Thế này.

 

Tháng 12 năm 2005.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.