Hôm nay,  

Văn Hóa “Tự Sướng”

16/09/202200:00:00(Xem: 6321)

Hình-ghép-cho-trang-nhất
Hình: 1. Người đàn bà đang chụp hình khung cảnh thành phố. 2. Tự chụp hình với cây “selfie-stick”

  

Vào tháng Năm vừa qua, một người đàn ông Ấn Độ đã thiệt mạng khi cố gắng chụp ảnh “tự sướng” bên cạnh một con gấu bị thương. Đây là cái chết thứ ba liên quan đến việc chụp ảnh tự sướng ở Ấn Độ kể từ tháng 12 năm ngoái. Trong hai tai nạn khác, những con voi đã đạp chết hai người trong lúc họ đang cố gắng tự chụp với chúng trong hai lần “tự sướng” riêng biệt.

Vào tháng 7 năm nay, Gavin Zimmerman, một người Mỹ du lịch đến Úc, 19 tuổi, đã mất mạng vì rơi xuống vực khi anh đang tự chụp ảnh tự trên một vách đá ở New South Wales.

Báo chí trong những năm gần đây thường xuyên xuất hiện những bản tin với những dòng tít như: “Một cặp vợ chồng mất mạng tại Yosemite Park trong khi chụp hình tự sướng.”; “Bé gái ngã chết trong lúc chụp hình tự sướng trên ban-công”; “Người đàn ông bị xe lửa tông khi đang chụp hình tự sướng”.
Tại sao người ta lại liều mạng chỉ để có được bức ảnh tự sướng hoàn hảo? Liệu nỗi “sung sướng” có đáng để đánh đổi tánh mạng, thời giờ, và những hậu quả liên hệ khác.

Bài này xin được gọi chữ “selfie” là “tự sướng” dù bị chỉ trích là sử dụng chữ nghĩa thô thiển, nhưng vì ý nghĩa gần như xác thực của cảm giác đạt được sau khi tự thực hiện điều này.
 
Sơ lược về lịch sử chụp ảnh “tự sướng”
 
Robert Cornelius, một nhiếp ảnh gia người Mỹ được ghi nhận là người tự chụp bức ảnh “tự sướng” đầu tiên: vào năm 1839. Cornelius, sử dụng một trong những chiếc máy ảnh đầu tiên, đã lắp đặt máy ảnh của mình và bắt đầu tự chụp.

Sự phát triển ngày càng rộng rãi của máy ảnh ngắm và chụp trong thế kỷ 20 dẫn đến việc tự chụp chân dung nhiều hơn, với nhiều người sử dụng phương pháp phổ biến (vẫn) là chụp ảnh trước gương.

Công nghệ chụp ảnh “tự sướng” đã có một bước tiến vượt bậc với sự phát minh ra điện thoại chụp ảnh. Sau đó, tất nhiên, có sự ra đời của chiếc gậy tự sướng. Đã có một thời cây gậy tự sướng được tôn vinh: tạp chí Time đã gọi cây “selfie-stick” là một trong 25 phát minh xuất sắc nhất năm 2014. Nhưng các nhà phê bình nhanh chóng chỉ ra điểm tiêu cực của nó và gọi nó là “cây gậy tự kỷ” và cây gậy này hiện bị cấm ở nhiều bảo tàng và công viên, bao gồm cả Walt Disney Resort.

Bất chấp những lời chỉ trích nhắm vào ảnh tự chụp, mức độ phổ biến của chúng vẫn không ngừng tăng triển. Các con số cụ thể dường như không thể nào đếm đủ, ước tính số lượng số lần selfie được đăng tải hàng ngày vẫn ở mức tối thiểu 1 triệu đến tối đa là 93 triệu chỉ tính trên các thiết bị Android.
 
Dù con số thực sự là bao nhiêu, một cuộc khảo sát của Pew từ năm 2014 cho thấy cơn sốt chụp ảnh tự sướng đã làm khuynh đảo giới trẻ. Trong khi 55% thế hệ trẻ tuổi chia sẻ ảnh tự sướng trên trang xã hội, có 33% thế hệ lớn tuổi (những người sinh từ 1920 đến 1945) thậm chí không biết selfie là gì hay chưa từng “tự sướng”.
 
Một báo cáo của Anh năm 2016 cũng cho thấy phụ nữ trẻ tham gia tích cực hơn vào việc chụp ảnh tự sướng, họ dành tới 5 giờ một tuần để tự chụp chân dung. Lý do lớn nhất để làm như vậy là gì? Tự thấy mình đẹp. Nhưng những lý do khác làm điều này là để khiến người khác ghen tị, hoặc để khiến người tình lừa dối hối hận về sự không chung thủy của họ.
 
Tăng cường tự tin hay xoa dịu tự ái?

Hình minh họa trang trong
Hình: Vua selfie “Hạo Nhiên” và nhóm bạn
 
Một số người xem ảnh tự chụp là một tiến trình tích cực.
 
Giáo sư tâm lý Pamela Rutledge tin rằng hành động tự chụp-tự sướng này giúp tôn vinh “những người bình thường”. Và nhà tâm lý học Andrea Letamendi của UCLA tin rằng ảnh tự chụp “cho phép thanh niên thể hiện trạng thái tâm trạng của họ và chia sẻ những trải nghiệm quan trọng.”
 
Một số lập luận rằng ảnh tự chụp có thể tăng cường sự tự tin bằng cách cho người khác thấy bạn “tuyệt vời” như thế nào đồng thời có thể lưu giữ những kỷ niệm quan trọng.
 
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều mối liên hệ tiêu cực với việc chụp ảnh tự sướng. Trong khi ảnh tự chụp đôi khi được ca ngợi là một phương tiện để nâng cao vị thế, một nghiên cứu ở châu Âu cho thấy rằng thời gian dành cho việc xem ảnh tự chụp trên mạng xã hội có liên quan đến suy nghĩ tiêu cực về hình ảnh cơ thể của phụ nữ trẻ.
Ngoài những tác động như gây chấn thương, tử vong hay đơn giản là sự vô vị, một vấn đề lớn đối với ảnh tự chụp dường như là chức năng của chúng hoặc là nguyên nhân hoặc hậu quả của lòng tự ái hay tự ti-tự tôn.
 
Peter Grey, viết trong tạp chí Psychology Today, mô tả lòng tự ti-tự tôn là “một cái nhìn thổi phồng về bản thân, cùng với sự thờ ơ tương đối với người khác”.Người tự ti-tự tôn có xu hướng đánh giá cao tài năng của họ và phản ứng với sự tức giận trước những lời chỉ trích. Họ cũng dễ bị bắt nạt hơn và ít khi nghĩ thông cảm hay quan tâm đến người khác. Theo Gray, các cuộc khảo sát về sinh viên đại học cho thấy đặc tính này ngày nay phổ biến hơn nhiều so với 30 năm trước.
 
Ảnh tự chụp và lòng tự ti-tự tôn có tương quan không? Nhà tâm lý học Gwendolyn Seidman gợi ý rằng hai điều này có liên hệ qua lại. Cô trích dẫn hai bản nghiên cứu đã kiểm tra mức độ phổ biến của ảnh tự chụp trên Facebook/instagram trong một cuộc khảo cứu hơn 1,000 người. Theo đó, những người đàn ông trong cuộc khảo cứu đăng nhiều ảnh tự chụp hơn cho thấy bằng chứng về lòng tự ti-tự tôn cao hơn so với nhóm người không đăng ảnh “tự sướng”. Trong khi những phụ nữ với số lượng đăng ảnh tự sướng cao lại liên quan đến một yếu tố khác nhẹ hơn của lòng tự ái được gọi là "nhu cầu ngưỡng mộ", được định nghĩa là "cảm giác được hưởng địa vị hoặc đặc quyền đặc biệt và cảm thấy vượt trội hơn những người khác."
 
Điểm mấu chốt của cuộc khảo cứu này là kết luận: Ảnh tự chụp và lòng tự ái, tự ti-tự tôn dường như có mối liên hệ tương quan với nhau.
 
Cách chúng ta so sánh bản thân với những người khác

Ảnh tự chụp là phương thức tự thể hiện phổ biến và được thế hệ trẻ thời nay ưa thích.
 
Các nhà tâm lý học nghiên cứu khái niệm về bản thân đã gợi ý rằng hình ảnh bản thân của chúng ta và cách chúng ta thể hiện nó được lọc qua hai tiêu chí: khả năng tin cậy (mức độ đáng tin cậy của những đăng tải từ chính mình về bản thân mình) và lợi ích (mức độ hấp dẫn, tài năng và kết quả mong muốn của những gì mình đăng tải về bản thân mình).
 
Theo nghĩa này, selfie hay hình tự chụp tự sướng là phương tiện hoàn hảo. Đó là một cách dễ dàng để phô trương ra bằng chứng về một cuộc sống thú vị, tài năng và khả năng phi thường, trải nghiệm độc đáo, vẻ đẹp cá nhân và sức hấp dẫn của bản thân.
 
Trong khi đó số liệu cho thấy rằng người ta đơn giản thích xem khuôn mặt. Trên mạng xã hội, ảnh tự chụp thu hút nhiều sự chú ý và nhiều bình luận hơn bất kỳ ảnh nào khác, và bạn bè và đồng nghiệp của chúng ta khẳng định họ yêu thích ảnh tự chụp bằng cách bấm “like” cũng như sử dụng các hình thức chấp thuận khác trên phương tiện truyền thông xã hội nhiều hơn.
 
Một giải thích cho lý do tại sao mọi người lại bị thu hút bởi việc nhìn vào ảnh tự chụp có thể đến từ một khuôn khổ tâm lý được gọi là lý thuyết so sánh xã hội. Người khởi xướng lý thuyết, Leon Festinger, đã đề xướng rằng mỗi người chúng ta đều có bản năng bẩm sinh và động lực đánh giá bản thân so với những người khác. Điều này được thực hiện để cải thiện cách chúng ta cảm thấy về bản thân (tự nâng cao), đánh giá bản thân (tự đánh giá), chứng minh chúng ta thực sự giống như chúng ta nghĩ (tự xác minh) và trở nên tốt hơn (tự cải thiện).

Đây là một danh sách gợi ý một loạt các động cơ có vẻ khá tích cực. Nhưng không may thực tế không mấy lạc quan như vậy. Theo các cuộc khảo cứu, những người có nhiều khả năng đăng ảnh tự chụp dường như có lòng tự tin thấp hơn những người không đăng. Ảnh tự chụp thu hút sự chú ý, có vẻ như là một điều tốt. Sự chấp thuận đến từ các lượt “thích” và nhận xét tích cực trên mạng xã hội là phần thưởng - đặc biệt là đối với những người cô đơn, bị cô lập hoặc bất an. Tuy nhiên, kết quả từ các cuộc nghiên cứu không mấy phấn khởi.
 
Ảnh Hưởng đến Quan Hệ Tình Cảm
 
Một nghiên cứu mới của các học giả Jessica Ridgway và Russell Clayton thuộc Đại Học bang Florida đã phát hiện ra rằng những người hài lòng hơn với hình ảnh khuôn mặt và cơ thể của họ đăng nhiều ảnh tự chụp hơn lên mạng xã hội – do họ tự tin khi phô trương hình tự chụp. Nhưng ngược lại họ cũng cho biết họ gặp nhiều xung đột hơn với người bạn đời - chẳng hạn như tranh cãi ghen tuông về sự chú ý của người khác dành cho hình đăng tải lên mạng của họ - và chất lượng quan hệ tình cảm của họ kém hơn so với những cặp không đăng hình tự chụp. Điều này có nghĩa việc  họ “tự sướng” với ảnh tự chụp đăng tải lên Instagram hay facebook liên quan đến việc “tự hại” quan hệ tình cảm của họ?
 
Các nghiên cứu chỉ ra rằng trong quan hệ tình cảm, khi một người thường xuyên đăng ảnh tự chụp hấp dẫn, người kia có thể cảm thấy ghen tị hoặc bị đe dọa. Điều này có thể dẫn đến việc theo dõi mạng xã hội của nhau, gây ra xung đột, nghi ngờ, lừa dối hoặc chia tay.
 
Một cách khác để giải thích những tác động có thể gây tổn hại tình cảm của việc đăng ảnh tự chụp là họ lo “tự sướng” mà không lo “sướng chung” khiến người bên cạnh có cảm giác bị bỏ rơi. Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng người ở trong quan hệ với người nghiện tự chụp tự sướng cảm thấy họ không gắn bó và thiếu hỗ trợ tinh thần trong mối quan hệ của họ.

Tuy vậy, các liên quan đưa ra trong nghiên cứu của Ridgway và Clayton không thể nói chắc chắn liệu việc đăng ảnh tự chụp trên Instagram có thực sự khiến người bạn đời hay người tình bên cạnh cảm thấy không an toàn hoặc bị bỏ rơi, do đó tác động khiến mối quan hệ đi xuống hay không. Và xu hướng tự chụp tự sướng vẫn tiếp tục tăng triển và ai trong chúng ta có lẽ ít nhiều cũng đều đã có lần tự chụp hình bằng điện thoại hay có lần tự đăng hình hình mình “tự sướng” lên mạng xã hội.
 
Tự Sướng ở Nhiều Lãnh Vực Khác
 
Chữ “tự sướng” không chỉ giới hạn cho việc tự chụp hình, tự làm người mẫu, tự xem hình bản thân, rồi lân lân tự sướng, mà ở thời đại kỹ thuật tân tiến ngày nay, quá trình tự sướng này được áp dụng trong nhiều lãnh vực khác của cuộc sống.

Chẳng hạn người ta từ bao giờ đã giảm thiểu nhu cầu đi nghe các chương trình nhạc trang trọng nơi người nghe đến ngồi yên lặng nghe ca sĩ nghệ sĩ chuyên nghiệp trình diễn, mà thay vào đó họ thích đi đến các buổi tụ tập “hát cho nhau nghe” nơi họ được tự hát, hay dễ dàng hơn nữa là mỗi nhà tự sắm một bộ karaoke rồi tự diễn, tự nghe, tự đắm đuối, và tự sướng.

Dĩ nhiên, quá trình tự sướng này không có giới hạn. Hãy tưởng tượng sau khi được làm người mẫu, tự ngắm nghía mình, bạn trở thành ca sĩ, tự nghe mình hát. Sau đó tiến thẳng lên làm văn sĩ, thi sĩ, tự viết truyện, tự làm thơ, tự in sách của mình, và tự say đắm.

Còn chữ nào đúng nghĩa hơn chữ “tự sướng”.

Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.