Hôm nay,  

Dạ Khúc, Đêm Trốn Chạy

03/07/202600:00:00(Xem: 245)
Thanh tam tuyen_Đinh Cường
Chân dung Thanh Tâm Tuyền - Họa sĩ Đinh Cường.
 
Một thi sĩ đúng nghĩa là một nhân chứng trung thực qua chữ nghĩa thơ. Đây là ý của nhà thơ Wilfred Owen (1893-1918.)

Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)

Cái đẹp bao gồm tính vật lý, tâm lý và siêu hình. Trong lãnh vực tâm lý và siêu hình, cái đẹp hiện diện khắp nơi, chờ đợi sự khám phá. Trong cái xấu, cái ác, cái hư hỏng vẫn có thể nhìn thấy cái đẹp, vì vậy, có câu: Đẹp một cách xấu hoặc xấu một cách đẹp. Thơ cưu mang bản chất thuận và nghịch. Chính vì vậy, một trong số thủ thuật tìm hiểu thơ hay là tìm thấy những nghịch lý, phi lý ở nội dung cũng như hình thức của bài thơ.

Dạ Khúc là một trong số bài thơ nổi bật của Thanh Tâm Tuyền. Trong dạng thơ tự do trình bày bằng nhiều ẩn dụ và biểu tượng. Những hình ảnh truyền đạt, những hình ảnh đối nghịch trong các tứ thơ rất sắc sảo, mạnh mẽ, tạo ấn tượng. Sử dụng tứ thơ khác lạ, chọn những hình ảnh hữu hiệu là điểm mạnh trong sáng tác của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.

Về cấu trúc

Dạ khúc gồm có: Bốn câu mở, bốn câu kết, mười sáu câu thân chia làm hai đoạn. Diễn tiến của cấu trúc theo chiều dài thời gian. Một lối cấu trúc tự nhiên và truyền thống trong văn học thơ Việt.

Bài thơ bắt đầu bằng bốn câu mở, tiếp theo là mười sáu câu thân và bốn câu kết. Toàn bài dựng trên những câu thơ chủ lực:

Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Sao tuổi trẻ quá buồn
như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như bàn ghế không bầy
Anh đưa em đi trốn.

Bảy câu trên cũng có thể là một bài thơ đầy đủ như một bài thơ ngắn với nhiều khoảng trống để tư duy. Câu “như bàn ghế không bầy” là câu yếu nhất so với các câu kia. Ý thơ chỉ là “tuổi trẻ cô đơn”

Thông điệp chính của bài thơ là “Sao tuổi trẻ quá buồn.” Ông đại diện cho thế hệ của ông để nói lên thực trạng chung, một cách sống chung của tuổi trẻ trong cùng thời đại. Thông điệp đó là một câu hỏi.

Câu hỏi không hẳn cần câu trả lời vì câu hỏi này mang tính triết lý hơn là cách hỏi bình thường. Câu hỏi lôi theo nhiều câu hỏi khác. Ví dụ như, tại sao tuổi trẻ chúng tôi lại buồn? Tuổi trẻ có quả gì với cái nhân của đất nước, dân tộc? Tại sao tuổi trẻ không được tận hưởng mùa xuân mà lây lất trong mùa thu, chuẩn bị một mùa đông lầy lội trước mặt?

Tựu trung, bài thơ này “buồn” là dấu hỏi, một thao thức, một phản đối, một chất vấn. Như Leonard Cohen đã viết: “Thơ chỉ là bằng chứng của cuộc sống. Nếu cuộc sống của bạn đang cháy, thơ chỉ là tro tàn.” (Poetry is just the evidence of life. If your life is burning well, poetry is just the ash.) 

Phân lý bài thơ

Đây là một bài thơ dễ hiểu qua diện ngôn ngữ. Không có chữ mới. Không có chữ phức tạp. Tất cả những gì khó hiểu nằm nơi hình ảnh trong ẩn dụ và biểu tượng. Nghĩa là chúng ta nỗ lực vạch trần những ngụ ý theo lề lối khoa học nhân văn để minh bạch hóa thay vì những lời tán rộng mơ hồ và những ý tưởng chơi vơi không liên can mấy đến bài thơ.

Lối bình thơ mà chúng ta thường gặp là lối bình thơ kéo dài từ trước năm 1975, Bình Thơ Tản Mạn. Nghĩa là trích những đoạn thơ rồi tản mạn về những đoạn thơ đó. Giải thích càng mơ hồ thì càng đúng với bản chất mơ hồ của thơ. Đôi khi chính vì lời bình, làm cho bài thơ khó hiểu hơn. Không phải chỉ phê bình Việt đi trên lối truyền thống này, mà nền phê bình Tây phương trước thế kỷ 20 cũng vậy. Từ thế kỷ 20 trở đi, phê bình Tây phương mới có nhiều thay đổi mới, lộng lẫy với lý thuyết tâm lý của Freud và các tâm lý gia của các thế hệ tiếp theo; với lý thuyết kinh tế-xã hội của Karl Marx; với Ký Hiệu Học; với Cấu Trúc Luận; với giải Cấu Trúc, vân vân…tiến vào thế kỷ 21 bằng một hỗn hợp phê bình với cá tính độc đáo của mỗi nhà phê bình nổi bật.

Bốn câu đầu tiên, bốn câu mở, hoàn tất luận lý và văn phạm như nhột đoạn văn xuôi: “Anh sợ những cột đèn đổ xuống rồi dây điện cuốn lấy chúng ta. Bóp chết mọi hy vọng nên anh dìu em đi xa.” Nếu lấy đi hai chữ “rồi” và “nên”, thì câu văn sẽ thơ hơn. Đoạn thơ sẽ rời rạc, không cần luận lý chặt chẽ, tạo ra khoảng trống cho tư duy, như:       

Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hi vọng
Anh dìu em đi xa

Cụm từ “bóp chết” có vẻ không phù hợp ý thơ. Dây điện cuốn lấy chúng ta, siết chết mọi hy vọng thì mới phù hợp với luận lý liên tục bởi chữ rồi và nên. Tôi nghĩ, sau cột đèn và dây điện, tác giả đổi sang một góc nhìn khác. Bóp chết ngụ ý một lực lượng khác mà cột đèn và đây điện làm ẩn dụ. Lực lượng đời sống, xã hội hoặc định mệnh. Hoặc là tác giả có ngụ ý gì khác với chữ ”bóp” mà tôi chưa khám phá ra.


Tứ thơ và hình ảnh cột đèn đổ xuống, dây điện cuốn chết con người là một tứ thơ độc đáo, ấn tượng. Mở đầu bằng một ẩn dụ như vậy khiến cho bài thơ quyến rũ người đọc tò mò muốn biết kết cuộc sẽ ra sao?

Phần mười sáu câu thơ thân chia làm hai đoạn “Đi đi”. Đoạn đầu là đi công viên. Đoạn tiếp theo là đi quán rượu.
Đi đi chúng ta đến công viên / Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối / Ôi môi em như mật đắng / Như móng sắc thương đau

Đoạn đầu ngắn, tác giả nói về bản chất tình tình yêu. Muôn thuở, tình lúc nào cũng ngọt mà yêu lúc nào cũng đắng. Tác giả sử dụng những hình ảnh rất hiệu quả vì gần gũi với trải nghiệm vị giác: ngọt và đắng, gần gũi với xúc giác: móng sắc. Theo tâm lý, yêu thường xuyên đắng là vì ghen và sợ mất người yêu.

Tình yêu là một phần thứ yếu trong bài thơ này, phần dài hơn là chủ đề thân phận trong đoạn thứ hai:

Đi đi anh đưa em vào quán rượu / Có một chút Paris / Để anh được làm thi sĩ / Hay nửa đêm Hà Nội / Anh là thằng điên khùng.

Paris và Hà Nội là một cặp đối đầu. Thi sĩ và thằng điên là một cặp đối đầu. Paris thuở ấy là chiếc nôi vàng son của văn học nghệ thuật, hầu hết các nghệ sĩ danh tiếng trên thế giới và những nghệ sĩ sắp nổi danh đều sống ở đó hoặc ghé đến như những kẻ hành hương. Ước mơ của nhân vật chính là được làm và được công nhận như một thi sĩ ở cấp độ Paris. Nhưng tiếc thay chỉ là nửa đêm Hà Nội.

Lúc này, tác giả đã vào Nam. Ký ức về Hà Nội mang tính chính trị và xã hội, gợi ý nơi đó, không thể làm nghệ thuật, không có thi sĩ chỉ có những gã điên khùng. Dưới chế độ Cộng Sản có bao nhiêu người làm thơ là thi sĩ thực sự?

Hình ảnh quán rượu có người bán hàng ngủ sau quầy, không phải là quán cóc bên đường bán rượu đế, mà là một “bar” rượu theo kiểu Pháp. Nơi thấp thoáng một chút Tây, một chút Paris. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của Tây Phương vào tận sở thích và ý tưởng của tác giả.

Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới / Chiếc kèn hát mãi than van / Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng /

Câu ôm em trong tay là ý thơ của Jack Prevet mà Thanh Tâm Tuyền đã khéo léo tái tạo trong ngôn ngữ Việt. Cụm từ “đã nhớ” chính xác nói lên điều gì đau đớn cho mai sau từ hạnh phúc hôm nay. Hai câu tiếp theo có thể diễn tả một bối cảnh của đôi tình nhân đang dìu nhau trong điệu nhạc khắc khoải. Thêm một hình ảnh nữa về nếp sống rất Tây.

Sao tuổi trẻ quá buồn / như con mắt giận dữ / Sao tuổi trẻ quá buồn /như bàn ghế không bầy

Thông điệp và ý chính của tác giả nằm trong bốn câu này. Tứ thơ con mắt giận dữ diễn tả tuổi trẻ quá buồn nói lên sự uất hận trong tâm trạn chán nản. Truyền đạt đến như vậy là cùng, khó làm sao hơn nữa. Nhưng bàn ghế lẻ loi không bầy để gợi lên sự cô đơn lạc lỏng của tuổi trẻ thì không xuất sắc lắm. Có nhiều hình ảnh khác độc đáo, mạnh bạo hơn để so sánh với tuổi trẻ quá buồn.

Thôi em hãy đứng dậy 
người bán hàng đã ngủ sau quầy 
anh đưa em đi trốn 
những giày vò ngày mai

Bốn câu kết thể hiện nỗi cam chịu, bỏ cuộc và trốn tránh. Tâm lý bi quan. Hình như chỉ có sức giận dữ hiện lên nơi con mắt. Thế thôi, toàn bộ bài thơ là một tâm trạng than thở, không biết làm gì hơn.

Trong bốn câu mở, tác giả viết: “Anh dìu em đi xa.” Trong bốn câu kết, tác giả viết: “Anh đưa em đi trốn.” Sự liên hệ giữa hai câu đúc kết một điều gì ủy mị. Tuổi trẻ chạy trốn khi đối diện nỗi buồn, khi phải đương đầu với bối cảnh khó khăn. Nhà thơ Audre Lorde nói:  “Thơ không chỉ là giấc mơ và viễn cảnh; nó là kiến trúc xương sống của cuộc đời. Nó đặt nền móng cho một tương lai đổi thay, một cây cầu bắc qua nỗi sợ hãi về những điều chưa từng có trước đây.” (Poetry is not only dream and vision; it is the skeleton architecture of our lives. It lays the foundations for a future of change, a bridge across our fears of what has never been before.) Trong tinh thần này, các bạn nghĩ sao về bài thơ Dạ Khúc? Chẳng lẽ đây là hiện trạng của tuổi trẻ trong thời đó, một bóng dáng nền móng của thế hệ?

Gần hai mươi năm sau, các thế hệ tuổi trẻ ở miền Nam trước tháng Tư năm 1975 chẳng những sao quá buồn, mà còn sao quá khốn khổ?

Kết luận

Ưu điểm của bài thơ là truyền đạt rõ ràng một trạng thái cảm xúc cụ thể: Tuổi trẻ của thế hệ dù có tình yêu cũng không lấp đầy nỗi buồn thân phận. Tạo được sự cảm thông nơi người đọc về nỗi ưu tư thời cuộc. Những hình ảnh với tứ thơ đặc sắc, nặng ý nghĩa và đạt được vẻ đẹp của thơ. Những nổi bật này làm bài thơ hấp dẫn, truyền tải chủ đề một cách hiệu quả.  Mặc dù có những chi tiết trừ bớt giá trị nhưng bài thơ này đã thỏa mãn hầu hết người đọc.

Nhận xét riêng của tôi về cá tính của bài thơ, có lẽ cũng là một phần cá tính của tác giả đã tạo ra không khí và cảm giác bi quan về thân thế trong thời cuộc. Chất bi quan này kéo dài qua nhiều nhà thơ trẻ về sau và kéo băng qua đại dương với những nhà thơ nhập cư. Khi đối đầu với thời cuộc, hình như hầu hết thơ Việt là bi quan, nẩy sinh ra hai nhánh lớn: 1- Bất cần đời. 2- Tìm đến tình yêu. Và thơ tình, thơ cảm tính chiếm 90% của thơ Việt nhập cư.
Ngu Yên

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
Trước đây vài năm, nghe Thư trở bệnh, tôi có viết một bài, ấy là tình bạn, dù xa cách nhau nhưng đều còn chân đi trên mặt đất. Nay Thư đi thật rồi, xin gởi một nén nhang từ biệt. Trước khi viết tiếp, tôi thử gõ vào AI, anh thầy Mo này có nhận xét về nhà thơ họ Phạm như sau: “Phạm Thiên Thư là một hiện tượng khá đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại. Ở ông có sự hòa quyện hiếm thấy giữa chất lãng mạn của thơ tình và chiều sâu thiền học của Phật giáo. Chính điều đó làm cho thơ ông mang vẻ “nửa đời nửa đạo” — vừa gần gũi, mộng mơ, vừa phảng phất suy tư siêu thoát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.