Hôm nay,  

NHÀ THƠ SINH NĂM TÝ - TẢN ĐÀ

1/24/202000:00:00(View: 8391)
TanDa_49
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu


Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.

    Vốn dòng khoa bảng tài hoa,  Tản Đà nổi tiếng thi phú từ nhỏ, nhưng hai lần đi thi đều hỏng,  từ năm 28 tuổi,  Tản Đà quyết định sống bằng  nghề cầm bút, vào Nam ra bắc làm báo: viết  tuồng cho các  đoàn hát, làm chủ bút  Hữu Thanh tạp chí, lập nhà sách nhà in Tản Đà thư cục, sáng lập An Nam Tạp chí,  số 1 ra ngày 1/7/1926. Đây là tờ tạp chí đầu tiên chuyên về văn học tại Việt Nam.

    Báo Ngày Nay của Tự Lực Văn Đoàn nhiều lần vẽ hí hoạ chê Tản Đà là thi sĩ theo kiểu “tửu nhập thi xuất.” Bị đả kích là chán đời, yếm thế, ông nói  trongmột lần diễn thuyết để trả lời Phạm Quỳnh, “Người mà không biết chán đời thì có khác gì lợn.”

   Những năm cuối đời, Tản Đà sống nghèo khổ và báo Ngày Nay mời ông dịch Đường thi trong hai năm 1937 -1938. Nhờ vậy mà có bản dịch Hoàng Hạc Lâu tuyệt tác. Thi sĩ mất vì bạo bệnh ngày 17 tháng 6 năm 1939, khi mới 51 tuổi.

 

Khai Bút Năm  Canh Thân 1920

 Năm nay tuổi đã ba mươi hai

Ta nghĩ mà ta chẳng giống ai.

Khắp bốn phương trời không thước đất,

Địa cầu những muốn ghé bên vai!

  

Khai bút năm Tân Dậu 1921

Năm nay tuổi đã ba mươi ba

Ta nghĩ mà ai chẳng giống ta.

Lo nước, lo nhà, lo thế giới,

Còn thêm lo nợ, nghĩ chưa ra!

 

Mậu Thìn xuân cảm

 

Cuộc thế xoay quanh đất một hòn

Sông chưa cạn đó, núi chưa mòn.

Dân hai nhăm triệu, ai người lớn ?

Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Cám cảnh khói mây mờ mặt biển,

Lo đời sương tuyết bạc đầu non.

 

Ngày Xuân Tương Tư

 

Trách cái tằm xuân nhả mối tơ

Làm cho bối rối mối tương tư.

Sương mù mặt đất người theo mộng,

Nhạn lảng chân trời kẻ đợi thư.

Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy

Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.

Tương tư một mối hai người biết

Ai đọc thơ này đã biết chưa?

  

Ngày xuân thơ rượu

 Trời đất sinh ra rượu với thơ

Không thơ không rượu sống như thừa!

Công danh hai chữ mùi men nhạt,

Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ.

Mạch nước sông Đà tim róc rách,

Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ.

Còn thơ còn rượu còn xuân mãi,

Còn mãi xuân, còn rượu với thơ.

Gặp xuân

 

Gặp xuân ta giữ xuân chơi,

Câu thơ chén rượu là nơi đi về.

Hết xuân, cạn chén, xuân về

Nghìn thu nét mực xuân đề vẫn xuân!

 

Vui Xuân

 

Tin xuân đến ngọn cây đào

Bảo cho hoa biết ra chào chúa xuân.

Mỗi năm xuân đến một lần,

Thiều quang chín chục xoay vần chẳng sai.

 

Ngày xuân còn mãi không thôi

Tuổi xuân ai dễ xanh rồi lại xanh?

Đường mây những khách công danh,

Mày râu cụ lớn thay hình thanh niên.

Thành sầu mấy ả Khâm Thiên,

Én oanh dẫn lối con thuyền Tần Dương.

Làng văn mấy bạn văn chương

Bút hoa án tuyết, hơi sương mái đầu.

 

Tiểu thư ai đó tựa lầu

Thơ đào chưa vịnh, mai hầu bảy ba.

Trời xanh trời cũng khi già

Xuân xanh xanh mãi đâu mà hỡi ai!

Gặp xuân ta hãy làm vui,

Kẻo nay xuân đến kẻo mai xuân về.

Vui xuân rượu uống thơ đề.

 

Đời Đáng Chán

 

Người đời thử ngẫm mà hay

Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê!

Còn ai ai tỉnh, ai mê,

Những ai thiên cổ đi về những đâu ?

 

Đời đáng chán hay không đáng chán ?

Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm.

Giá khuynh thành nhất tiếu thiên kim 

Mắt xanh trắng đổi nhầm bao khách tục.

Giang hà nhật dạ nhân giai trọc

 

Thiên địa lô trung thực hữu tình. 

Đón đưa ai gió lá chim cành, (*)

Ấy nhân thế phù sinh là thế thế.

Khách phù thế chưa dứt câu phù thế

Người phong lưu càng đượm vẻ phong lưu.

Bức khăn hồng nâng đỡ hạt châu

Chuyện kim cổ một vài câu phải trái.

Châu Nam Hải, thuyền chìm sông Thúy Ái 

Sóng Tiền Đường, cỏ áy bến Ô giang .

Ngẫm nghìn xưa: ai tài hoa, ai tất liệt,

                                                ai đài trang,

Cùng một giấc mơ màng trong vũ trụ.

Đời đáng chán biết thôi là đủ

Sự chán đời xin nhủ lại tri âm.

Nên chăng nghĩ lại kẻo lầm.

                                                                1922

(*)  Một cười đáng giá ngàn vàng.
(**) Sông ngày một cạn, người đời dơ đục.
      Trong lò tạo hoá, ai có tình ?

  
Xuân ơi xuân hỡi!

 

Vắng xuân lâu ta vẫn đợi chờ mong

Trải bao nhiêu ngày tháng hạ, thu, đông

Ròng rã nỗi nhớ nhung, xuân có biết?

 

Khứ tuế xuân qui, sầu cửu biệt

Kim niên xuân đáo, khách tương phùng (*)

 

Vịnh Bức Địa Đồ Rách

 

Nọ bức dư đồ thử đứng coi

Sông sông núi núi khéo bia cười!

Biết bao lúc mới công vờn vẽ

Sao đến bây giờ rách tả tơi ?

Ấy trước ông cha mua để lại

Mà sau con cháu lấy làm chơi.

Thôi thôi có trách chi đàn trẻ

Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.

                                                 1921

 

Xuân Tứ

 

Xuân xưa Hàng Lọng cờ bay

Thoi đưa ngày tháng đã đầy mười năm.

Biết bao ra Bắc vào Nam,

Bức dư đồ rách đã cam khó lòng.

Văn chương chút nghĩa đèo bòng

Thuyền không tay lái vẫy vùng được sao ?

Ngày xuân thêm tuổi càng cao,

Non xanh nước biếc càng ngao ngán lòng!

                                                                                1936

 

Gió Thu

 Trận gió thu phong rụng lá vàng,

Lá rơi hàng xóm, lá bay sang.

Vàng bay mấy lá năm già nửa,

Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng.

 

Trận gió thu phong rụng lá hồng,

Lá bay tường bắc, lá sang đông.

Hồng bay mấy lá năm hồ hết,

Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông.

                                                                1925.

 

Mỵ Châu Trọng Thuỷ

 Một đôi kẻ Việt người Tần

Nửa phần ân ái nửa phần oán thương

Vuốt rùa chàng đổi móng

Lông ngỗng thiếp đưa đường

Thề nguyền phu phụ

Dạ quân vương

Duyên nọ tình kia dở dở dang

Trăm năm giọt lệ

Ngọc trai nước giếng

Nghìn thu khói nhang.

Tống Biệt

 

Lá đào rơi rắc lối thiên thai

Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi

Nửa năm tiên cảnh

Một bước trần ai

Ước cũ duyên thừa có thế thôi

Đá mòn rêu nhạt

Nước chảy huê trôi

Cái hạc bay lên vút tận trời!

Trời đất từ đây xa cách mãi

Cửa động

Đầu non

Đường lối cũ

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi...

 

 

Thề Non Nước

Nước non nặng một lời thề

Nước đi đi mãi không về cùng non

Nhớ lời nguyện nước thề non

Nước đi ra biển non còn ngóng trông

 

Non cao những ngóng cùng trông

Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày

Xương mai một nắm hao gầy

Tóc mây một mái hãy còn tuyết sương

 

Trời tây nổi bóng tà dương

Càng phơi vẻ ngọc nét càng phôi pha

Non cao tuổi vẫn chưa già

Non thời nhớ nước, nước mà quên non

 

Dù như sông cạn đá mòn

Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa

Non xanh đã biết hay chưa

Nước đi ra bể lại mưa về nguồn

 

Nước non hội ngộ còn luôn

Bảo cho non chớ có buồn làm chi

Nước kia dù hãy còn đi

Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui

Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non nước nước không nguôi lời thề

 

TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.