Hôm nay,  

Bài Thơ Trên “Đảo Thiên-Thần”

11/02/202200:00:00(Xem: 6187)

 

hinh-phai-1
 Angel Island vào cuối thế kỷ 19, nhìn từ Sausalito. Nguồn: Marin IJ

 
 
Du khách đến Vùng Vịnh Bay Area thường hỏi thăm về đảo Alcatraz — tuy nhỏ nhưng nổi tiếng nhờ có nhà tù khét tiếng đã được làm phim với Clint Eastwood thủ vai chính. Thế nhưng ít ai biết đến, hoặc tò mò muốn ghé thăm, Angel Island (Đảo Thiên-Thần) mặc dù nó từng đóng một vai trò khá đáng kể trong vở kịch di dân của nước Mỹ.
 
Angel Island là hòn đảo lớn thứ nhì trong Vịnh San Francisco, với diện tích hơn 3km vuông. Cách đây mười ngàn năm chỏm đất này còn dính với đất liền, nhưng sau thời kỳ Băng-Hà mực nước biển lên cao biến nó thành hòn đảo. Khoảng hai nghìn năm trước, nơi đây là vùng săn bắn và đánh cá của thổ dân da Đỏ Miwok. Sau khi người Âu-Châu khám phá ra tân-thế-giới, người Tây-Ban-Nha đã dùng nơi này để nuôi bò.
 
Ngày nay Angel Island là một khu lâm viên của tiểu bang California, đồng thời là một di tích lịch sử cấp quốc gia. Điểm cao nhất trên đảo là ngọn núi cao 240 mét mang tên Mount Livermore. Từ bờ Bắc của đảo có thể nhìn thấy vùng trồng nho Sonoma và Napa xanh ngát. Vào những ngày nắng đẹp, đứng ở bờ Nam có thể thấy thành phố San Jose và San Francisco xa xa.
 
hinh phai 6
Thuyền nhân vừa đổ bộ lên Angel Island. Nguồn: National Archives
 
Mệnh danh “Ellis Island của Miền Tây”, Angel Island là trạm dừng đầu tiên của thuyền nhân vượt Thái-Bình-Dương đến Mỹ — tương tự như Ellis Island ở New York, nơi có tượng Nữ-Thần chào đón “đoàn người lam lũ, thèm hít thở không khí Tự-Do” (the huddled masses yearning to breathe free). Nhưng khác với Ellis Island là nơi đón tiếp dân da trắng đến từ Âu-Châu, những người được Angel Island đón nhận đa phần là dân da vàng và da nâu từ Trung-Mỹ, Nam-Mỹ và Á-Châu (có cả người Việt). Đông nhất là người Hoa.
 
Câu chuyện về Đảo Thiên-Thần bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 19 và kéo dài đến năm 1940. Không chỉ là một trại tạm trú bình thường, nó còn mang dấu tích của  và biểu tượng của nạn kỳ thị dân da vàng mà cho đến nay vẫn ít được ai nhắc đến.
 
Vào những năm giữa thế kỷ 19, khi vàng được khám phá ở California, người Hoa đã ồ ạt di cư sang Mỹ. Lúc bấy giờ thời gian của chuyến hải hành từ Trung-Hoa lục địa hay Hồng-Kông sang Cali cũng ngang ngửa từ Boston hay New York bằng đường bộ. Người Hoa không chỉ sang Mỹ để đào mỏ mà còn làm những công việc tay chân khác. Họ cung cấp một nguồn lao động rẻ tiền và kiếm sống bằng đủ nghề phục vụ người da trắng. Dẫu vậy, họ không có nhiều quyền lợi cũng như không được phép trở thành công dân. Người da trắng gọi họ là “coolies” (cu-li) hoặc miệt thị hơn nữa thì là “chink”. Như nhiều cộng đồng di dân khác, người Hoa sống túm tụm với nhau trong các khu xóm gọi là Chinatown, lớn nhất là ở San Francisco.
 
Khi chính phủ liên bang cần xây đường xe lửa xuyên lục địa — Transcontinental Railroad, vào những năm sau Nội-Chiến, họ đã phải mướn nhân công Hoa-kiều mặc dù bị các nhóm tư bản da trắng phản đối dữ dội. Nhiều người Mỹ viện cớ dân Á-Châu nhỏ con, yếu đuối, không thể nào kham nổi công việc cực nhọc này. Thế nhưng sau nhiều tuần lễ đăng báo tuyển mộ, chỉ có vài trăm người da trắng ghi danh. Năm 1865 ông Leland Stanford — cựu thống đốc California và giám đốc công ty hoả xa Central Pacific (sau này sáng lập đại học Stanford) — điều trần trước Quốc-Hội rằng nếu không có nhân công Hoa-kiều thì đường sắt Transcontinental Railroad sẽ không thể nào hoàn tất kịp theo yêu cầu của nhà nước. Nhờ vậy mà số người Hoa được Quốc-Hội cho phép nhập cư tăng mạnh.
 
hinh-phai-2
Lao động Hoa-kiều xây đường sắt ở Utah. Nguồn: Canyonlands Natural History Association
 
Khởi đầu với một đội ngũ chỉ 21 người, hơn 20 ngàn công nhân Hoa-kiều đã góp công xây dựng đường hoả xa xuyên bang, thay đổi bộ mặt và lịch sử Hoa-Kỳ. Hàng ngàn người Hoa đã bỏ mạng trên các vùng rừng núi và sa mạc, nhất là khu vực hiểm trở gần Reno, Nevada. Sau khi tuyến đường sắt tại các tiểu bang miền Tây hoàn tất năm 1969, lao động Hoa-kiều phải tìm việc khác để làm. Cùng lúc đó, kinh tế nước Mỹ bước vào một giai đoạn thoái trào — The Long Depression, khởi đầu từ các thành phố lớn ở bờ Đông. Dân da trắng từ các thành phố miền Đông tràn sang California tìm việc, đa số quy tụ ở San Francisco. Hiềm khích bắt đầu xảy ra.
 
Công nhân Hoa-kiều nhờ chịu lãnh lương rẻ hơn nên lấy được job của người da trắng, đã vậy họ lại không buôn bán, xài tiền với doanh nghiệp da trắng nên càng bị ganh ghét. Thập niên 1870 là lúc các cuộc xung đột giữa người da trắng và da vàng xảy ra thường xuyên. Năm 1871, một cuộc tàn sát thảm khốc đã diễn ra tại Chinatown ở Los Angeles, khi ấy mới chỉ có khoảng 170 người Hoa trú ngụ. Hơn 500 người da trắng và Mễ đã giết hại và treo cổ gần 20 người Hoa. Không kẻ phạm pháp nào bị kết án. Năm 1877 đến phiên Chinatown ở San Francisco bị tấn công trong ba ngày liền. Lúc bấy giờ dân số San Francisco đã lên đến 200,000 người — 10% là Hoa kiều, và tỉ lệ thất nghiệp đang ở mức 20%. Bộ phim “Warrior” trên HBO, với Dustin Nguyễn và Diana Đoàn, cũng dùng bối cảnh San Francisco vào thời điểm này với nhiều màn đâm chém khá gay cấn (ai chưa xem nên xem cho biết).

hinh-phai-3

Chinatown, San Francisco đầu thập niên 1900. Ảnh: Arnold Genthe

 
Tình hình ngày càng căng thẳng. Đến năm 1882 thì Quốc-Hội thông qua đạo luật “Chinese Exclusion Act”, cấm hầu hết người Hoa nhập cư vào Mỹ trừ một vài thành phần đặc biệt như ngoại giao, nhà giáo, các nhà chuyên môn v.v. Đây là đạo luật đầu tiên — và duy nhất, trong lịch sử Hoa-Kỳ nhắm vào một sắc dân hay chủng tộc. Sau khi đạo luật có hiệu lực, di dân đến từ Á-Châu bị đưa lên các nhà tù nổi của sở di trú đậu trong Vịnh San Francisco để được thanh lọc. Với những điều kiện khắt khe của đạo luật “Chinese Exclusion”, số người Hoa bị từ chối và trục xuất khá cao. Nhưng vì lý do kinh tế và chiến tranh nha phiến ở Trung-Quốc vào cuối thế kỷ 19, người Hoa vẫn tiếp tục tìm cách bỏ nước ra đi.
 
Sang đầu thế kỷ 20, bệnh dịch hạch nổi lên khắp nơi. Cùng vào thời điểm đó, một trào lưu khoa học nửa mùa mang tên Eugenics lan tràn trong giới trí thức Âu-Mỹ. Xuất phát từ Anh, phong trào Eugenics xâm nhập vào chính trường Mỹ và có ảnh hưởng sâu rộng đến chính sách di dân. Nó dựa trên giả thuyết con người ta có thể chọn lọc gen để đẻ ra những đứa con có giống tốt và loại trừ những giống xấu. Tất nhiên tốt xấu ở đây được nhìn qua lăng kính của màu da và sắc tộc. Và từ góc nhìn của người Caucasian da trắng thì các giống da màu đều xấu hơn, không thể pha trộn với genes của họ. Eugenics chính là hạt mầm dẫn đến Holocaust của Hitler, tiêu diệt hàng triệu người Do-Thái và gypsies sau này.

hinh phai 7

Nơi tiếp đón người di dân trên Đảo Thiên-Thần. Nguồn: National Archives

 
Do hai lý do nói trên, năm 1910 chính quyền cho xây một khu tạm giam trên Đảo Thiên-Thần để thanh lọc và xử lý người nhập cư, tương tự như Ellis Island ở New York. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu và sổ sách còn được lưu trữ, có sự khác biệt rõ rệt giữa hai trạm tạm trú. Ở Ellis Island, đa số di dân là da trắng đến từ Âu-Châu; trong số đó chỉ có khoảng 20% là bị giữ lại trong trại tạm trú. Thời gian họ ở trong trại cũng không lâu; trung bình chỉ độ một hai ngày để kiểm tra lý lịch, giấy tờ v.v. Hầu hết (98%) được cho phép vào nước Mỹ. Trong khi đó thì gần hai phần ba người nhập cư qua cảng San Francisco bị đưa vô trại tạm giam trên đảo Angel Island. Đa số bị giữ lại nhiều ngày, có khi nhiều tuần, nhiều tháng. Một người bị giam đến 756 ngày!
 
Phần lớn những người bị nhốt trên đảo Angel Island đến từ Á Châu — Đại Hàn, Phi Luật Tân, Ấn Độ v.v. Nhưng đông nhất là từ vùng Quảng Đông bên Tàu. Để làm khó dễ những người không biết nói tiếng Anh này, nhân viên di trú đặt ra những câu hỏi thật khúc mắc nhằm đánh rớt họ. Có nhiều câu hỏi thật ngớ ngẩn, như nhà anh cách nhà kế bên cạnh bao nhiêu feet? Mục đích chính của sở di trú thật ra chỉ để trục xuất càng nhiều người càng tốt. Chỉ những người lanh lẹ, giỏi tiếng Anh và có tiền mới có thể kiện cáo và có cơ hội thắng kiện để được vào Mỹ. Nó là một hình thức thanh lọc và kỳ thị có hệ thống, được luật hoá hết sức bất công nhưng cực kỳ tinh vi. Kết quả là nó đã dẫn đến nhiều trường hợp thương tâm, mà câu chuyện sau đây chỉ là một ví dụ.
 
hinh phai 8
Giường cho người bị tạm giam trên Đảo Thiên-Thần. Nguồn: National Archives
  
Năm 1924, vài tuần trước khi một đạo luật mới mang tên “Immigration Act” có hiệu lực, Soto Shee cùng chồng là Lim Lee và đứa con trai đầu lòng mới 7 tháng rời Hồng-Kông sang Mỹ để đoàn tụ với bố của Lim Lee là một công dân Mỹ sống ở San Francisco. Lúc bấy giờ Soto đang mang thai đứa con thứ nhì trong bụng. Khi họ cập bến San Francisco, chiếu theo luật di trú mới, chỉ mỗi một mình Lim Lee là được lên bờ. Soto và đứa con trai bị đưa sang Angel Island. Tại đây con trai cô mắc bệnh viêm ruột và qua đời, phải đưa xác cho bố đứa bé là Lim Lee ở San Francisco để chôn. Luật sư của Soto xin phép cho cô rời trại để dự đám tang nhưng bị từ chối. Không những vậy, sở di trú còn ra lệnh trục xuất Soto trở về Tàu. Quá tuyệt vọng, Soto treo cổ tự tử. May sao cô được cứu sống kịp thời. Đến lúc đó nhân viên di trú mới chịu cho Soto ở lại để đi đám tang con mình.
 
Ít lâu sau khi xuất trại Angel Island, Soto cho ra đời một bé gái; hai vợ chồng đặt tên con là Mỹ Hảo, tiếng Anh là Mabel, để đánh dấu cuộc sống mới ở Mỹ-quốc. Tuy nhiên, họ vẫn phải tiếp tục tranh đấu để Soto không bị trục xuất. Phải mất nhiều năm trời họ mới hoàn tất mọi thủ tục giấy tờ. Cuối cùng thì Soto Shee cũng được định cư hợp pháp. Bà sinh cả thảy tám người con và sống cho đến năm 96 tuổi.
 
hinh-phai-5
Một căn trại trên Đảo Thiên-Thần. Nguồn: National Archives
  
Angel Island được dùng làm trại tạm trú cho người nhập cư gần 30 năm. Năm 1940 nó bị đóng cửa sau một trận hoả hoạn. Trong khoảng thời gian 30 năm ấy Angel Island đã đón nhận gần nửa triệu người đến từ 80 quốc gia khác nhau, hơn phân nửa đến từ Trung-Quốc. Đến năm 1943 thì luật “Chinese Exclusion” bị Quốc-Hội dẹp bỏ. Sang thập niên 1950-60 các điều kiện di trú được nới lỏng dần. Người di dân từ Á-Châu được quyền trở thành công dân như xưa.
 
Thời Đệ-Nhị Thế-Chiến, Angel Island được dùng làm nơi thanh lọc và xử lý tù binh chiến tranh và trại tập trung người Mỹ gốc Nhật. Sau năm 1946 trại bị bỏ hoang cho tới năm 1963 thì được sáp nhập vào hệ thống State Park của California. Năm 1970 Sở Lâm-Viên Tiểu-Bang ra quyết định đập bỏ các trại tạm giam và xây một khu State Park mới với các trò chơi dã ngoại như cưỡi ngựa, cước du, cắm trại v.v.
  
hinh phai 9
Một căn trại trên Đảo Thiên-Thần. Nguồn: Angel Island Immigration Station Foundation
 
Lúc bấy giờ, một nhân viên của State Park tên Alexander Weiss khám phá trên các bức tường của các lán trại có rất nhiều bài thơ chữ Hán và Nhật, một số bài còn được khắc vào gỗ. Bản thân Weiss cũng là một di dân từ Áo quốc. Hồi còn trẻ, Weiss từng phiêu dạt từ miền Đông nước Mỹ sang San Francisco, làm đủ thứ nghề để kiếm sống kể cả thuỷ thủ trong Hải Quân Mỹ.  Là một nhạc sĩ và thi sĩ, đồng thời là nhà hoạt động dân quyền từng tham dự các cuộc biểu tình bằng xe bus của nhóm Mississippi Freedom Riders vào thập niên 1960, Weiss đã bỏ ra 20 năm trời để lấy được mảnh bằng đại học tại San Francisco State University. Hơn ai hết, Weiss nhận ra Angel Island là một mảng lịch sử hiếm quý cần được lưu giữ và bảo vệ.
 
Nhờ sự vận động không mỏi mệt của Weiss, cùng với sự hậu thuẫn từ cộng đồng Á Châu, giới sinh viên, văn nghệ sĩ và các nhóm bảo tồn di sản văn hoá trong Vùng Vịnh, năm 1976 thống đốc Jerry Brown ban hành một đạo luật biến các khu trại trên Angel Island thành một khu di tích lịch sử. Các căn nhà được trùng tu lại, và các bài thơ trên tường được phục hồi và bảo quản cẩn thận. Năm 1983, trại di dân Angel Island được mở cửa cho công chúng vào xem. Angel Island trở thành một địa điểm tham quan cho những ai muốn tìm hiểu thêm về cuộc hành trình đầy máu và nước mắt của những thế hệ di dân da vàng cách đây một thế kỷ.
 
Hơn hai trăm bài thơ chữ Hán đã được phát hiện tại đây, đa số làm theo thể thơ Đường cổ điển. Thêm vào đó là hàng trăm những hàng chữ rải rác đó đây bằng tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Nga, tiếng Ấn và nhiều thứ tiếng khác… Nó là chứng tích của bao thế hệ di dân đã bị nhốt tại đây với tương lai mờ mịt, bất định. Nó là những tiếng thở dài và tiếng kêu trong tuyệt vọng của những con người đang lây lất trong cảnh tù đày bất đắc dĩ. Nó là nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ anh chị em; nhớ người yêu bên kia bờ Thái Bình Dương xa tắp.
 
 
hinh-phai-4
Một bài thơ khắc trên tường. Nguồn: Angel Island ISF
 
Là người Việt, có lẽ chúng ta dễ dàng cảm thông và thấu hiểu tâm trạng của những thuyền nhân và tù nhân này. Người viết tuy chưa bước chân lên Angel Island bao giờ, nhưng lần tới có dịp ghé Vùng Vịnh chắc chắn sẽ tìm cách đến thăm Đảo Thiên-Thần để nhìn tận mắt những bài thơ và nét chữ của những người di dân thuở trước. Trong khi chờ đợi, xin mời các bạn thưởng thức một bài thơ của một tác giả vô danh, vừa mới được dịch sang tiếng Việt.
 
Bài 43
 
囚困木屋天復天
自由束縛豈堪言
舉目誰歡惟靜坐
關心自悶不成眠
日永樽空愁莫解
夜長枕冷倩誰憐
參透箇中孤苦味
何如歸去學耕田
 
Tù khốn mộc ốc thiên phục thiên
Tự do thúc phược khởi kham nghiên
Cử mục thuỳ hoan duy tĩnh toạ
Quan tâm tự muộn bất thành miên
Nhật vĩnh tôn không sầu mạc giải
Dạ trường chấm lãnh thính thuỳ liên
Tham thấu cá trung cô khổ vị
Hà như quy khứ học canh điền
 
oOo
 
Trong gian nhà gỗ giữa trại giam
Ta ngồi thúc thủ đếm thời gian
Nhìn quanh chẳng thấy ai vui cả
Ngủ không tròn giấc chả buồn than
Môi khô chén rượu vơi ngày ngục
Gối lạnh đêm tù rối ruột gan
Biết tỏ cùng ai niềm cô khổ—
Hay ta về lại với ruộng làng?
 
-ianbui
2022.01.01

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.