Hôm nay,  

Vài chuyện về Cung Tiến

6/10/202200:00:00(View: 2756)
Tdinh__DSC2606
Từ trái: Nữ tài tử Kiều Chinh, Nhạc sĩ Cung Tiến, Nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng, và MC Lê Đình Y-Sa tại đêm nhạc Cung Tiến "Vết Chim Bay" do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức vào tháng Bảy năm 2010 tại La Mirada Theater, Nam California
 
Đầu thập niên 1990, tôi có diễm phúc được làm việc với nhạc sĩ Cung Tiến và từ đó dần trở nên một người bạn thân với gia đình ông. Trước đó, tôi nghe người ta đồn là nhạc sĩ Cung Tiến ‘khó tính” lắm! Nhưng qua những lần làm việc với ông, tôi thấy ông bị oan. Ông không khó tính vì xấu tính.  Ông thực ra là một người rất nhỏ nhẹ, trí thức và uyên bác mà khiêm tốn. Ông chỉ có tiêu chuẩn cao cho nhạc của ông và ông mong muốn nhạc của ông được trình bày với những tiêu chuẩn đó.  Tôi đã có cơ hội học hỏi thêm về những tiêu chuẩn này của ông.  

Lúc ấy nhân duyên đưa đẩy, tôi được biết đến bài Vết Chim Bay của ông và xin phép ông cho tôi thu âm bài đó vào CD. Ông chắc cũng chưa nghe tôi hát bao giờ, nhưng cũng cho phép, mà cũng không nhận tiền bản quyền, lại còn cho tôi cả bản hòa âm phối khí dàn nhạc của ông cho tôi sử dụng nữa!  Khi tôi đưa bài cho Duy Cường làm theo hòa âm phối khí của Cung Tiến thì Cường  “kêu” là mất công lắm.  Thường thì các nhạc sĩ Việt Nam viết ca khúc chỉ viết giai điệu thôi, có thể viết thêm những hợp âm cho bài hát, nhưng rất ít người viết soạn hòa âm hay phối khí cụ cho bài hát của mình.  Do đó, các nhạc sĩ hòa âm tha hồ muốn hòa âm phối khí sao cũng xong và có thể làm rất nhanh.  May thì hay, nhưng nhiều khi nghe không có gì đặc biệt cả và có khi còn chói tai nữa.  Duy Cường là một người hòa âm hay, nhưng theo tôi, bài Vết Chim Bay phải dùng hòa âm của Cung Tiến mới đạt! Duy Cường phải đánh vào máy từng phần của các nhạc khí từ tổng phổ ông Cung Tiến cho, để cho vào “synthesizer” và đưa cho các nhạc sĩ chơi phần của họ.

Le Da Xanh
Cung Tiến, Bích Liên, Thu Vàng & Nhóm Thân Hữu Ngàn Khơi. Từ trái: Tín Trần, Lệ Thanh, Thu Vàng, Bích Liên, Cung Tiến, Josee, Wendy Ngô, Thúy Hằng, Kim Liên, Kim Anh; tại Tòa Soạn Việt Báo, Westminster, tháng 12, 2019; Đêm Nhạc Lệ Đá Xanh.

Kết quả nói chung làm hài lòng Cung Tiến. Ông chỉ có một điều không vui lắm là Duy Cường cắt đi một trường canh sau câu “trong tiếng chuông chiều đưa” vì Cường nghĩ là không cần thiết.  Lúc đó tôi cũng nghĩ như Duy Cường vì trường canh này thật ra chỉ là lập lại của trường canh trước, có cắt đi cũng không sao.  Tuy nhiên, sau này, khi hát lại bài này, thì tôi thấy ông Cung Tiến rất có lý.  Trường canh đó tuy là lập lại của trường canh trước, nhưng sự lập lại rất cần thiết như tiếng chuông thường được gõ hơn một lần thì mới có thì giờ lắng sâu vào tâm hồn người nghe được.  Thế mà lúc ấy ông chỉ nhỏ nhẹ hỏi tại sao cắt thôi, chứ không la lối trách móc gì cả. Đó là một thí dụ về sự “khó tính” mà không khó tính của Cung Tiến. Ông để ý từng chi tiết nhỏ nhưng cũng rất thông cảm cho những người trình diễn. 

Sau đó một thời gian, ông có soạn bài Lơ Thơ Tơ Liễu theo một bản chèo cổ, cho giọng hát, thụ cầm và dàn dây, và cho tôi cái hân hạnh được hát lần đầu tiên với Roseville String Ensemble ở Minnesota.  Lần này tôi biết hơn về sự cẩn thận, sự trân trọng âm nhạc của ông.  Ông đưa bài trước cho tôi cả hơn một tháng và nhắc nhở những chi tiết nhất là những đoạn đảo phách phải hát sao cho rõ mà phải tự nhiên.  Bài ông soạn rất kỹ, ghi chú rõ những chỗ lớn nhỏ như thế nào, nhanh chậm ra sao, diễn tả tình cảm gì, v.v.. Bản tổng phổ có đầy đủ các phần của các nhạc cụ nữa.  Nhờ sửa soạn kỹ như thế, khi đến Minnesota, tôi chỉ cần cùng dàn nhạc dượt một lần là có thể trình bày ăn khớp ngay. Không phải chỉ bài này mà bài hát nào ông cũng soạn kỹ như vậy.  Đấy, ông khó tính như thế. Nhưng ông cũng rất chịu khó nghe ý kiến của người hát, và nếu có những chỗ khó khăn người hát cần thay đổi một chút để hát dễ hơn, nếu có lý, ông cũng chấp nhận.


Có lần ông hỏi tôi là tại sao ca sĩ hay hát sai bài Hương Xưa. Tôi đã thưa với ông là vì tiêu chuẩn của ông quá cao.  Thí dụ câu đầu tiên mà ai cũng biết của bài Hương Xưa là “Người ơi, một chiều nắng tơ vàng hiền hòa hồn có mơ xa” chẳng hạn, nếu hát như ông viết và muốn ca sĩ hát đúng mà hay, mà tâm tình, thì không ca sĩ nào có đủ dài hơi để hát cả! Vì vậy phải lấy hơi hay đổi nhịp đi để dễ hát hơn.  Thế là ông cười và thông cảm.  Nhưng có một điều mà ông không thông cảm là hát sai cao độ.  Khi viết nhạc, ông rất để ý đến cao độ của từng nốt một. Khi sử dụng một nốt nào đó, ông đều có dụng ý cả, nên nếu nghe hát sai, ông thấy rất khó chịu.  Mà không trách ông được! Theo ông, tuy ca sĩ cũng có quyền sáng tạo, nhưng vẫn phải trong khuôn khổ và phải biết và tôn trọng những điểm thiết yếu của bản nhạc.  Ông còn soạn cả những nốt láy của từng câu từng chữ.  Và phải công nhận là nếu hát láy đúng như những nốt ông viết thì hay hơn là những nốt ca sĩ tự chế nhiều. Ông lại viết hòa âm cho từng bài cho thích hợp. Theo thiển ý của tôi, hòa âm của Cung Tiến nghe rất hay và rất hòa hợp với giai điệu bài hát. 

Ông cũng rất cẩn thận trong việc dùng chữ trong bài hát. Ca từ của ông tuyệt đẹp và có dụng ý. Trong những bài thơ phổ nhạc, ông cố gắng giữ càng nhiều chữ của thi sĩ càng tốt, chỉ thay đổi vì sự đòi hỏi vế âm diệu và tiết tấu của bản nhạc thôi.  Ông không thay đổi lời ca một khi đã in ra, trừ vài trường hợp đặc biệt mà tôi được biết.

Một trường hợp là bài Hoàng Hạc Lâu. Trong bài hát có câu “Gần xa chiều xuống nào quê quán…” nhưng trong bài thơ của Vũ Hoàng Chương mà ông lấy để phổ nhạc, câu này lại là ”Gần xa chiều xuống đâu quê quán…”! Tôi có hỏi ông về việc này, thì ông bảo ngay là phải đổi lời của câu này thành ”Gần xa chiều xuống nào đâu quê quán…”để gần với chữ của Vũ Hoàng Chương hơn. Chữ nào có hai nốt nhạc, nên khi đổi thành hai chữ nào đâu rất dễ dàng và không đổi nhạc.

Một trường hợp đổi lời nữa là trong bài Mắt Biếc. Câu “Đâu ngờ phút giây huy hoàng, phút giây khổ đau!” trong những ấn bản đầu đã được đổi thành “Không tàn phút giây huy hoàng, không phút giây khổ đau” trong ấn bản mới nhất do Kim Lũ xuất bản năm 2010.  Bài này ông viết tặng Josee, người bạn đời của ông, người mà ngay trước khi nhắm mắt sang thế giới khác, ông đã nói trong vòng tay bà: “Em là người yêu suốt đời của anh!” Tôi đã hỏi ông về việc này và ông đã cho biết sự thay đổi lời bài hát này phản ảnh tình yêu hạnh phúc của hai ông bà. 

Có người cũng phàn nàn với tôi là Cung Tiến chối bỏ những bài hát ông làm lúc ban đầu như Thu Vàng, Hoài Cảm hay Hương Xưa là những bản nhạc được nhiều người biết đến và yêu quý nhất.  Thật ra ông không hề chối bỏ chúng.  Nhưng đối với ông, những bản nhạc đó là những bước đầu trong sự trưởng thành về âm nhạc của ông, và ông có buồn khi nhiều người cho rằng đó là tiêu biểu cho sự nghiệp âm nhạc của ông. Qua những lần trò chuyện với ông, tôi biết là ông mong muốn những tác phẩm sau này của ông được giới thưởng ngoạn biết tới hơn. Tôi thông cảm với ông nhiều vì khi mình có cái gì tốt đẹp muốn chia sẻ với mọi người mà người ta chỉ thích cái ít đẹp hơn thì ai mà chẳng buồn.  Có điều, sự hiểu biết về nhạc và trình độ thẩm âm của ông quá cao so với đa số quần chúng, do đó nhạc của ông thường bị coi là quá bác học và khó thưởng thức.  Thôi thì vài mươi năm hay vài trăm năm nữa sẽ có nhiều người tri âm Cung Tiến hơn!
 
Ông đã ra đi êm ái như một vết chim bay. Cầu mong ông được yên nghỉ. 

Bích Liên
 

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.