Hôm nay,  

Tình Bạn Lính Xưa

26/04/202400:00:00(Xem: 4163)


1a 

 

Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay?
 
Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi.

Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu.  Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.

Chiếc xe GMC trần trụi chở một bầy trai non, có dân chơi thành phố, tóc bờm xờm; có học sinh mới lớn còn ngớ ngẩn; có sinh viên bị đôn quân, dạn dĩ kiểu đàn anh; có dân quê nhập ngũ, lúng túng; có kẻ trung người tây, chúng tôi chen lấn ngồi hai hàng đối diện. Xe băng qua thành phố. Mọi người sinh hoạt bình thường. Không ai lưu tâm những chàng trai trẻ, xếp bút nghiên theo việc đao cung. Xa xa, sau lưng chợ là nhà tôi. Mẹ giờ này đang chuẩn bị cơm trưa. Bỗng dưng, một anh nào đó, cất tiếng hát:

Rồi đây mai ngày ai hỏi đến tên tôi (1)
Bạn ơi! Hãy nói "khoác chiến y" rồi

Lập tức cả bọn hùa theo. Làm như có tập dợt trước. Ai cũng hăng say, dù thuộc lời hay không.

Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên
giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền
có về là khi nước non vui bình yên…

Thật là cảm động. Anh bạn ngồi cạnh tôi, người huế,
cất giọng trọ trẹ nghe như than thở:

Nhớ lúc lên đường đưa tiễn chân tôi,
Thương lên khoé mắt mẹ nhắn đôi lời,
Diệt thù lập công cho xứng tài trai,
Sắt son ghi lòng chớ phai.
Ai đi chinh chiến xây đắp tương lai,
Con đi chinh chiến để nước yên vui
Lời mẹ hiền khuyên nguyền khắc trong tim.

Rồi anh bật lên khóc giữa lúc mọi người đang hồ hỡi, khiến chúng tôi lặng thinh, thông cảm. Chỉ còn nghe tiếng máy xe rú và bánh xe ầm ầm nhồi ổ gà. Trong lúc có vẻ thành tâm, một anh dân chơi phá lên. Có đứa phát cười. Có đứa cau có:

Bạn ơi, quan tài xin cạn chén đi thôi
Ngày mai tôi đã, đã đi xa rồi.

Một giọng khác lớn hơn chiếm lại ưu thế, vài người hùa vào:

Bạn ơi! Khi nào ai hỏi đến tên tôi
Đời tôi lính chiến cánh chim tung trời.
Ngày nào khi đất nước hết binh đao
giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu,
trở về thành đô nắm tay ta mừng nhau.

Tôi bắt đầu sự nghiệp lính như vậy.

Đại đội của chúng tôi gồm có 110 đứa. Ra trường vào mùa hè đỏ lửa 1972. Một năm sau, kêu gọi, hẹn hò, gặp lại nhau, chỉ còn một nửa. Năm đó, bạn tôi, chuẩn úy thủy quân lục chiến tham gia trận đánh chiếm lại Cổ thành Quảng Trị và anh đã lên lon cố thiếu úy.

Bạn tôi hát rất hay. Những đêm nghỉ học ở quân trường, anh ôm đàn thùng, mơ màng những lời truyền cảm, đúng tâm sự, cả bọn ngồi nghe, mịt mờ, say sóng. (2)

Những ngày xưa thân ái, anh gửi lại cho ai?
Gió mùa xuân êm đưa rung hàng cau lưa thưa
Anh cùng tôi bước nhỏ, áo quần nhăn giấc ngủ
Đi tìm chim sáo nở, ôi bây giờ anh còn nhớ?
Những ngày xưa thân ái, anh gửi lại cho ai?
………
Thời gian qua mau, tìm anh nơi đâu?
Tôi về qua xóm nhỏ, con đò nay đã già
Nghe tin anh gục ngã, dừng chân quán năm xưa
Uống nước dừa hay nước mắt quê hương
Những đường xưa phố cũ, ôi nỡ đành quên sao?
Xin gọi lại tên anh giữa trời sao long lanh
Anh giờ yên giấc ngủ, tôi nằm nghe súng nổ
Như lời anh nhắc nhở, ôi căm hờn dâng ngập lối
Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi, tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gửi lại cho em

Anh có một người yêu xinh xắn. Chúng tôi xem được hình. Không biết rồi anh sẽ gửi cho ai.

Tôi rời quân đội sớm. Trở về trường luật để tiếp tục chuẩn bị ra trường. Hôm chia tay với các bạn trong đại đội. Người thiếu phụ đó lại khóc lên, thật mủi lòng. Tôi vẫn nhớ mãi anh chàng nhỏ nhắn cùng tiểu đội, da trắng và ẻo ẻo như con gái. Khi tôi làm trưởng ban văn nghệ thực hiện lễ ra trường gắn Anh Pha, tôi bắt anh giả gái, đội tóc giả màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, mặc áo đầm, múa vũ khúc “Ác Quỷ và Giai Nhân” thật là đẹp, thật là vui. Thật khó hiểu, khi bắt anh mang cái nịt vú của chị tôi, rồi xoay mấy vòng, trông anh như một vũ nữ. Một năm sau, cô vũ nữ đã theo chồng sang bên kia thế giới trong trận chiến ở Bình Long.

Chai rượu đã gần cạn. Một mình uống rất dễ say. Nhưng tôi chưa say vì bận rộn nhớ lại những bài nhạc, một lịch sử nghệ thuật vừa hiện thực vừa lãng mạn, có lẽ chỉ có trong một đất nước chiến tranh dai dẳng với những tâm hồn đa cảm.

Nếu biết rằng tôi đã bỏ cố hương
Khoát áo đời trai đi ngựa lên đường
Tôi tin rằng người ấy thêm thương
Vui lòng cho kẻ phong sương
Dấn thân ngoài súng đạn sa trường. (3)

Tức cười nhất là những ca từ mang ẩn ý thấm nhuần hành vi tuổi trẻ và của lính về thành phố, chớp nhoáng, thăm người yêu.

Những ngày chưa nhập ngũ, (4)
Anh hay dắt em về vùng ngoại ô có cỏ bông may.
Ở đây êm vắng thưa người, còn ta với trời,
….
Sợ khi người đi để thương, để nhớ
Tiếng yêu đương ai nỡ chối từ.
………….
Những ngày anh đi khỏi
Xin em chớ đi lại vùng tình yêu lắm bẫy nhân gian,

Một trong số bài hát mà hầu hết người lính đều ưa thích, dù không biết hát cũng lầm bầm vài câu. Diễn tả nỗi say mê thắm thiết “Cửa tâm tư là mắt, nên khi đối mặt, chuyện buồn dương gian lẫn mất…” vừa văn vẻ vừa cảm động vừa đúng chóc, không thể nào nói hay hơn. Rồi, cái cảnh tưởng tượng “vụng về ngôn ngữ tình, làm bằng dấu đôi tay,” nhạc sĩ Trúc Phương thật là lão luyện tâm lý.


Từ xa tôi về phép (5)
Hai mươi bốn giờ tìm người thương trong người thương
Chân nghe quen từng viên sỏi đường nhà
Chiều nghiêng nghiêng nắng đổ
Và người yêu đứng chờ ngoài đầu ngõ bao giờ
Cửa tâm tư là mắt
Nên khi đối mặt chuyện buồn dương gian lẫn mất
Đưa ta đi về nguyên thuỷ loài người
Mùa yêu đương muốn ngỏ
Vụng về ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay
Bốn giờ đi dài thêm bốn giờ về
Thời gian còn lại, anh cho em tất cả em ơi
Ta đưa ta đến vùng tuyệt vời
Đêm lạc loài giấc ngủ mồ côi
………………………..

2
Người thiếu phụ đó không còn khóc nữa. Có lẽ đã quá mệt mỏi, đã cạn nước mắt, gục đầu lên mặt bàn. Quê hương chinh chiến của tôi có biết bao nhiêu thiếu phụ mất chồng. Nỗi đau lòng buồn thảm đó là một thế giới khác. Thế giới của mất mát, ly tan, của những tâm hồn bị cướp giật yêu thương, bị xô ngã giữa đời sống vẫn tiếp tục đạp lên và không nhìn lại.

Rồi sau 30 tháng 4, họ phải làm gì với thân phận đó? Lấy chồng khác hay ở vậy nuôi con? Khốn khổ nói sao cho hết lời. Cay đắng kể sao cho ai hiểu. Đập chữ vỡ ra, có thấy máu chăng?

Đời của mỗi người, ai cũng có một số điều may mắn. Một trong những may mắn mà tôi ghi khắc trong trí nhớ, đó là lần gặp lại những người bạn thân từ thời trung học. Thi tú tài xong, mỗi đứa mỗi nơi, mỗi binh chủng, mỗi vùng chiến tuyến. Vậy mà may mắn thay, bốn anh bạn này đi phép, trở về thành phố Nha Trang, thăm nhà, có được hai ngày trùng lập với nhau. Chúng tôi hẹn ở một quán cà phê nhỏ, vắng vẻ, sau 8 giờ chỉ còn chúng tôi, uống bia và làm nhiều chuyện ngớ ngẩn, trẻ thơ, rồi ca hát, say mèm. Sáng hôm sau, chia xa, trở về đơn vị, tôi ở lại thành phố. Điều may mắn đó có thể là không may mắn. Mỗi khi nhớ lại, không biết gọi nó là gì, ngôn ngữ thiếu hụt, đành gọi là may mắn.

Tôi lại gặp anh (6)
Người trai nơi chiến tuyến
Súng trên vai bước lê qua đường phố
Tôi lại gặp anh
Giờ đây nơi quán nhỏ
Tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ

[Ngón đàn bolero của Sơn vẫn ngọt lịm như ngày nào. Giọng hát của Phương giờ đây thêm nhiều nhựa thuốc lá và thanh quảng mòn mài rượu đế.

Khi chúng tôi mang đàn vào quán, cô thu ngân đã chú ý những anh lính này. Chắc cô đã quen lính tráng nhậu nhẹt, có hung thần, có ma quỉ, có thư sinh, có nghệ sĩ. Và cô phải chịu đựng những gì xảy ra, kể cả việc súng nổ, chai bay. Miếng cơm manh áo có đáng hay không? Không có câu trả lời chính xác vì không thể làm gì khác hơn. Nhưng đêm nay, cô thu ngân, tên Phương Hạnh, ánh mắt trẻ mà ngấm buồn, mái tóc nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, nghiêng nghiêng dưới ánh đèn mờ, rất ấn tượng, nhưng chúng tôi bận hát, bận sống cho hết đêm. Mới đầu, thỉnh thoảng Hạnh liếc nhìn về hướng bàn bốn anh lính và một anh dân sự chìm sâu trong góc tối rồi quay đi sợ họ trông thấy, mặc dù, tai vẫn lắng nghe. Một lát sau, khi quán không còn ai, chỉ còn vỏ chai bia và lính, Hạnh dạn dĩ chống tay lên cằm ngồi thưởng thức tiếng hát của anh thiếu úy rằn ri nhưng đẹp trai với hàng lông mày rậm.]    

Nhớ gì từ ngày anh xa mái trường
Nhớ gì từ ngày anh vui lên đường
Lối gầy về nhà anh hoa phượng thắm
Màu xanh áo người thương
Nắng chiều đẹp quê hương
Hay nhạc buồn đêm sương

Tôi lại gặp anh
Trời đêm nay sáng quá
Ánh trăng như hé tươi sau ngàn lá
Tôi lại gặp anh
Đường khuya vui bước nhỏ
Kể nhau nghe chuyện cũ bao ngày qua
Lối gầy về nhà anh hoa vẫn nở
Kỷ niệm từ ngày xưa chưa xóa mờ
Ánh đèn vàng ngoài ô vẫn còn đó
Bạn anh vẫn còn đây
Sống cuộc đời hôm nay
Với bọn mình đêm nay

[Đêm càng tối, lòng càng bay bổng một cách nặng nề. Không có tâm sự nào rõ ràng, chỉ cảm thấy xúc động với đời với người với bạn, kể cả với Hạnh, giờ này, không còn là chủ quán, cô đã trở thành một em gái nhỏ, hậu phương, đang chia xẻ với các anh lính từ tiền đồn về phố. Dường như sáu người chúng tôi đang cảm buồn về những điều gì xa xăm. Gần giống thôi nhưng không hẳn là niềm chia tay, nỗi chết, chỉ là một cảm nhận, một thứ gì mơ hồ bao quanh rồi tràn ngập cả quán. Tất cả những đèn trên tường trên bàn đã tối, giờ còn tối thêm. Hùng có lẽ đã say mê, không phải Hạnh, chỉ một người nữ cần thiết xuất hiện thoáng qua, đậm đà cảm xúc cho anh lính biệt động đang la đà trong câu hát “Và phương đó em ơi có gì vui xin biên thư về cho anh. Nhớ thương vơi đầy, đêm nay trên đồn vắng, thương em anh thương nhiều lắm, em ơi biết cho chăng, tỉnh lẻ đêm buồn… “(7) Đời người dễ được mấy khi sống trọn vẹn buông thả, chúng tôi không còn nhớ thời gian. Hạnh cũng quên đóng cửa quán.]

Anh sống đời trai giữa núi đồi
Tôi viết bài ca xây đời mới
Bờ tre quê hương
Cây súng anh gìn giữ
Tôi hát vang giữa đời để người vui

Thôi mình chia tay
Cầu mong anh chiến thắng
Ánh trăng khuya sắp tàn trên hè phố
Thôi mình chia tay
Rồi mai đây có về
Quà cho tôi anh nhớ chép bài thơ
Nắng đẹp của bình minh đang hé chờ
Nỗi buồn vui biệt ly chưa xóa mờ
Súng thù từ rừng sâu vẫn còn đó

[Đột nhiên tiếng còi giới nghiêm hú lên. Một tiếng hú không đúng lúc, phá vỡ một thế giới tình tự lãng mạn. Hạnh trở về với cô chủ quán. Chúng tôi trở về với chiến tranh. “Cảm ơn Hạnh,” Chỉ có Hùng nói như vậy. 

Năm đứa tôi đi ra đầu đường, Tôi và Thành về chung một hướng, ba người kia mỗi người mỗi ngả.]

Đừng lưu luyến gì đây
Thôi bọn mình chia tay
Thôi bọn mình chia tay.
[Chia xa. Mỗi người trở về đơn vị của mình. Tôi ở lại thành phố. Và vĩnh viễn không còn trông thấy nhau nữa.]
 
                    Viết trong khi chờ 30 tháng 4, 2024
 
Ghi:
(1)  Biệt Kinh Kỳ của Minh Kỳ.
(2)  Những Ngày Xưa Thân Ái của Phạm Thế Mỹ.
(3)  Gõ Cửa của Anh Bằng.
(4)  Bông Cỏ May của Trúc Phương.
(5)  24 Giờ Phép của Trúc Phương.
(6)  Trăng Tàn Trên Hè Phố của Phạm Thế Mỹ.
(7)  Đêm BUồn Tỉnh Lẻ của Tú Nhi.
 
 

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.