Hôm nay,  

'Do Thái' hay Israel?

06/03/202600:00:00(Xem: 1443)
6DayWar
Nên gọi quốc gia đó là 'Do Thái' hay Israel? Ảnh: Chính Luận năm 1967
 
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel.
 
Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
 
Năm sau đó, 1947, khi quyền cai trị của Anh chấm dứt, Cơ quan Do Thái tuyên bố "thành lập một nhà nước Do Thái tại Eretz-Israel, được gọi là Quốc gia Israel," dẫn đến chiến tranh đầu tiên với các nước Ả Rập chung quanh. Sau một năm giao chiến, một thỏa thuận đình chiến được công bố và một biên giới tạm thời (Đường Xanh lá cây) được lập ra. Để có đất cho quốc gia mới lập, có đến 700,000 người Palestine bị trục xuất hoặc phải chạy loạn, dẫn đến tình trạng cho tới ngày nay vẫn còn nhiều người Palestine sống nhiều thế hệ trong các trại tỵ nạn.
 
Vì vậy, tất cả báo chí miền Nam trước 1975 đều gọi quốc gia này là Do Thái. Trong giới báo chí hải ngoại ngày nay, những người dùng ngôn ngữ báo chí miền Nam trước 1975 làm chuẩn gọi quốc gia này là Do Thái. Những người muốn dùng chữ Việt thay vì chữ ngoại quốc cũng gọi quốc gia này là Do Thái.
 
Tuy nhiên, với tôi, dùng tên Do Thái cho quốc gia này dẫn đến một số ngộ nhận. Đó là sự nhập nhằng không nên có giữa Do Thái - vốn là một tôn giáo hay một dân tộc - và quốc gia.
 
Trước tiên hết, tuy mục tiêu lập ra nước này là để cho người Do Thái có một quốc gia, nhưng ngay từ đầu quốc gia này đã không hề là của riêng người Do Thái. Năm 1948, tuy có đến 700,000 người Palestine phải rời khỏi vùng đất của quốc gia mới, nhưng cũng có 156,000 người Ả Rập còn ở lại và trở thành công dân Ả Rập của quốc gia này.
 
Nếu dùng chữ "Do Thái" để gọi tên nước, chẳng lẽ gọi là là "người Ả Rập Do Thái" - sẽ gây hiểu nhầm là họ theo đạo Do Thái. Theo thống kê của Văn phòng Thống kê Trung tâm của nước này, số người Ả Rập năm 2021 là 1.98 triệu, trong số gần 9.4 triệu dân. Quốc hội (Knesset) xưa nay vẫn có khoảng trên dưới 10% là dân biểu Ả Rập. Trong 15 thẩm phán Tối cao Pháp viện, có một thẩm phán người Ả Rập.
 
Đó là về phía nội bộ. Về phía bên ngoài, dùng chữ "Do Thái" để gọi quốc gia này sẽ dẫn đến việc đồng hóa với toàn bộ mọi người Do Thái khắp thế giới. Con số này lên tới trên 15 triệu người vào năm 2025, với một số lớn, trên dưới 7.5 triệu sống tại Hoa Kỳ, trong các thành phố New York, Los Angeles, Miami, Chicago.
 
Nói chung, người Do Thái ủng hộ quốc gia này, nhất là nếu chúng ta sống ở Mỹ và nhìn qua lăng kính của tổ chức AIPAC, American Israel Public Affairs Committee, lập ra để vận động ủng hộ quốc gia này. Nhưng không phải luôn luôn vậy. Ngay từ thời lập quốc 1947, 1948, đã có một số người Do Thái không đồng ý. Thí dụ như nhánh Haredi cực-bảo thủ của Do Thái Giáo cho rằng tuy người Do Thái cần có một "quê hương" để về, nhưng chỉ có Đấng Cứu thế mới có quyền lập ra quốc gia riêng cho người Do Thái. Một số yếu nhân khác không đồng ý với kế hoạch phân chia Do Thái - Ả Rập mà muốn có một quốc gia lưỡng thể, nửa này nửa kia.
 
Với từng hành vi của chính quyền quốc gia này, sự bất đồng trong cộng đồng Do Thái thế giới còn cao hơn. Chiến tranh tại Gaza hiện nay, sau vụ 7 tháng 10, đang gặp sự bất đồng và chống đối từ nhiều thành phần Do Thái trên thế giới. Tuy nhiên, đây không phải là lần đầu tiên. Một số nhà quan sát cho rằng sự rạn nứt về chính sách với cộng đồng hải ngoại diễn ra lần đầu là chiến tranh Lebanon (một số nhà báo Việt ngữ gọi là Li-băng) năm 1982, khi có đến 3000 người tỵ nạn Palestine bị tàn sát trong trại tỵ nạn. Hội đồng Do Thái Mỹ (American Jewish Congress) và nhiều tổ chức Do Thái khác công khai lên tiếng chỉ trích.
 
Vì vậy, dùng tên "Israel" hợp lý hơn. Chữ Israel không loại trừ công dân Ả Rập và những công dân khác không phải Do Thái trong quốc gia này. Chữ Israel cũng không đồng hóa giữa quốc gia đó và người Do Thái toàn cầu. Chữ Israel tránh nhiều hiểu lầm về những sự kiện đang liên tục xảy ra tại Trung Đông.
 
Vũ Quí Hạo Nhiên
 

Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Tư tưởng gia người Mỹ George Santayana (1863-1952) đã từng viết trong tác phẩm “The Life of Reason: Reason in Common Sense” được xuất bản năm 1905 rằng, “Những ai không thể nhớ quá khứ thì bị buộc phải lập lại nó.” Có lẽ ý của ông Santayana là nếu ai không học được những bài học của quá khứ thì sẽ phải tiếp tục dẫm lên vết xe đổ. Một con người đánh mất quá khứ tức là mất đi ký ức thì sẽ không nhận biết mình là ai, do đó cũng sẽ không biết mình phải làm gì để xây dựng tương lai. Tương tự như vậy, một dân tộc đánh mất quá khứ lịch sử thì dân tộc đó sẽ không có tương lai. Quá khứ dù có xấu xa cỡ nào thì cũng là những gì mà chính con người hay một dân tộc đã từng làm. Trên thế gian này không một ai và không một dân tộc nào đã không từng một lần phạm phải sai lầm. Nhưng những sai lầm đó trong một ý nghĩa nào đó chính là những điều quý giá mà một con người hay một dân tộc có thể rút ra được bài học để có thể không tái phạm và làm điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai.
Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
Các khoa học gia tại Đại học New York theo dõi hoạt động não của 23 người thông thạo cả Anh ngữ lẫn Tây Ban Nha. Họ nhận thấy những mẫu hoạt động thần kinh gần như giống nhau khi người tham dự biến một danh từ từ số ít sang số nhiều trong cả hai thứ tiếng. Phát hiện này cho thấy não không nhất thiết phải dựng nên một hệ thống ngữ pháp riêng cho từng ngôn ngữ. Thay vào đó, nó có thể dùng chung một cơ chế căn bản, rồi điều chỉnh cơ chế ấy theo quy tắc của mỗi tiếng.
Một cuộc thăm dò mới của CNN do SSRS thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ chung đối với Tổng thống Donald Trump đã sụt giảm mạnh xuống còn 34%, ngang bằng mức thấp nhất trong sự nghiệp của ông. Ngoài ra, con số kỷ lục 73% người trưởng thành tại Mỹ cho rằng ông chưa dành đủ sự quan tâm cho những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Cuộc thăm dò, được thực hiện từ ngày 23 đến 27 tháng 7 năm 2026, cho thấy sự bất mãn lan rộng trên nhiều nhóm nhân khẩu học và các vấn đề khác nhau. Cử tri da trắng đóng vai trò then chốt trong thành công chính trị của ông Trump suốt hơn một thập kỷ qua. Theo truyền thống, Trump thường đạt kết quả tốt hơn nhiều trong nhóm cử tri da trắng so với toàn thể cử tri. Mức độ ủng hộ của nhóm này cũng đã giảm đáng kể trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026. Tỷ lệ ủng hộ ròng của ông Trump—được tính bằng cách lấy tỷ lệ ủng hộ trừ đi tỷ lệ không ủng hộ—trong nhóm cử tri da trắng đang ở mức âm 20, mức thấp nhất từng được ghi nhận.
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến. Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm. Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.
Vào những năm 1520, 1530, có một người tên Esteban de Dorantes, người đời quen gọi là Estevanico, đã một mình băng qua sa mạc mênh mông của vùng đất nay là Texas, New Mexico và Arizona — trước khi người Anh dựng nên Jamestown năm 1607 gần một thế kỷ, và trước khi đoàn di dân Pilgrim đặt chân lên Plymouth năm 1620 tròn một trăm năm. Ông sinh ra ở Azemmour, một thị trấn ven Đại Tây Dương của Ma Rốc, bị bắt làm nô lệ, đưa sang Tây Ban Nha rồi vượt biển sang Tân Thế Giới. Trong một chuyến viễn chinh bi thảm khiến gần như cả đoàn bỏ mạng, Estevanico là một trong số ít người sống sót. Ông học được nhiều thứ tiếng bản địa và trở thành một trong những người đầu tiên của "Old World" đặt chân xuyên suốt miền nam nội địa của nước Mỹ sau này.
Trung Quốc coi thương mại là một trong những thành tựu nổi bật của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), với tổng kim ngạch giữa Trung Quốc và năm quốc gia hạ nguồn đạt khoảng 500 tỷ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng đó là một thực tế đáng lo ngại: Lợi ích từ thương mại không được phân bổ đồng đều. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc lên tới 115,6 tỷ USD, trong khi Campuchia và Thái Lan cũng chịu mức nhập siêu rất lớn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.