Hôm nay,  

Đi Lộn Phòng

10/07/202600:00:00(Xem: 1618)
di lon phong
Photo: tác giả chụp.

Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman.
Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.

Đến một khu phố mua sắm có vẻ sang trọng, chúng tôi muốn vào xem coi chợ búa và sinh hoạt của người dân địa phương ra sao. Qua cánh cổng sắt vững chãi, to lớn, bên trong là một máy X-ray an ninh giống như TSA ở phi trường bên Mỹ. Bước vào bên trong, chúng tôi mới biết đây là một khu trưng bày nghệ thuật giống như những “galleries” triển lãm nhiều tranh vẽ đương đại. Sau khi thưởng lãm những kiệt tác của các họa sĩ địa phương đến mỏi cả mắt, khờ cả người, chúng tôi càng … khờ thêm vì không hiểu họa sĩ muốn nói gì. Biết thân biết phận là người chẳng hiểu chi là cầm kỳ thi họa hoặc nghệ thuật kim cổ; chúng tôi bèn cho phép cái bao tử đi thưởng thức nghệ thuật … ăn uống, coi bộ dễ dàng hơn. Nhìn sang phía trái, một vài nhà hàng sang trọng bày biện rất đẹp mắt và có vẻ mắc tiền.

Trước khi thưởng thức “nghệ thuật” ẩm thực, chúng tôi kiếm nhà vệ sinh để “xả nước cứu thân”. Anh Đại và tôi, cả hai ngước nhìn theo một bảng chỉ dẫn, thấy rõ dấu hiệu hình đàn ông, kèm theo chữ “Ibadet” bên dưới. Đoán mò “ibadet” cũng gần với “bidet” tiếng Mỹ, chắc mẫm là đi đúng nơi, đến đúng chỗ, bèn đẩy cửa bước vào.

Căn phòng tối om, tôi đưa tay sờ soạng lên tường tìm công tắc bật đèn. Căn phòng bật sáng. Và cũng chính lúc ấy, trực giác mách bảo tôi rằng hình như có cái gì đó không bình thường. Bên trái căn phòng, có 4 tấm thảm nhỏ khác màu với nhau, không có vẻ gì giống thảm chùi chân. Bên phải có một bức tường ngăn cách nhỏ, một đôi dép ngay trên ngưỡng cửa, một cái lavabo đôi với hai vòi nước, xa hơn một chút là một cái ghế nhựa và một cái mắc áo có 5 cái móc trên tường.

Tôi hơi khựng lại một chút, thoáng bối rối vì thấy hình như có cái gì đó không đúng với một cái bồn tiểu thông thường. Tuy tay đã chuẩn bị kéo cái zipper xuống, nhưng bộ não bất ngờ giành lại quyền chỉ huy, nó ra lệnh: dừng lại “tú đờ suyt”, rút quân ngay, không được chần chừ!

Triệt thoái ra khỏi vùng cấm địa nhanh như chớp, tôi mới thấy đây là sự may mắn hiếm hoi trong cuộc đời của mình: cái đầu nhanh hơn cái tay. Thông thường tôi là người thông minh nhưng chậm hiểu. Hồi trẻ đi chơi với bạn gái mới quen, đôi tay hay táy máy, hành động nhanh hơn cái đầu, nên thỉnh thoảng bị để lại 5 dấu ngón tay trên má. May thay lần này, đôi tay chậm lại, cứu một bàn thua trông thấy.

Tôi chợt nhớ khi còn làm việc ở vùng Trung Đông, thỉnh thoảng có đến các đền thờ Hồi giáo, đã từng thấy các tín đồ làm nghi thức thanh tẩy trước khi bước vào đền cầu nguyện. Tín điều bắt buộc họ phải rửa mặt, rửa tay, trước khi vào nơi cầu nguyện đấng Allah.

Nghi thức rửa tay và thanh tẩy trước khi cầu nguyện trong Hồi giáo được gọi là Wudu. Đây là quy trình bắt buộc để làm sạch cơ thể và tâm trí, được thực hiện tại khu vực vòi nước của đền thờ hoặc tại nhà.

Trước hết phải khởi tâm ý thanh tẩy bản thân để chuẩn bị cầu nguyện (không cần đọc thành lời), rồi bắt đầu niệm đấng Allah. Rửa hai bàn tay đến tận cổ tay 3 lần, bắt đầu từ tay phải. Dùng tay phải súc miệng và rửa mũi 3 lần. Rửa mặt. Lau đầu và tai. Cuối cùng rửa chân 3 lần sạch sẽ lên đến mắt cá chân. Sau đó, thành tâm bước vào đền thờ.

di lon phong 2
Photo: tác giả chụp.
di lon phong 3
Photo: tác giả chụp.
di lon phong 4
 
Suýt nữa thì hai thằng gây ra một vụ án hình sự tầm cỡ quốc tế, một “xì căng đan” căng thẳng ngoại giao giữa hai nước Kỳ - Kỳ, là Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là trọng tội chứ chẳng chơi. Cứ tưởng tượng khi hai thằng đang sung sướng thưởng thức “đệ tam khoái” của loài người thì một ông Hồi giáo, râu tóc bạc phơ, trang nghiêm bước vào thấy cảnh tượng đó; ông ta sẽ đứng chết trân, tôi đứng chết cứng, còn anh Đại đứng chết khiếp. Ba người, sáu con mắt nhìn nhau, không ai hiểu ai, chỉ có Thượng Đế mới hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Hãy tưởng tượng, ông ta gọi cảnh sát, hậu quả sẽ tàn khốc biết chừng nào! Hai tên tội phạm sẽ được mời vào đồn cảnh sát uống trà Çaykur, rồi xe phú lít hú còi inh ỏi, chở hai tên khờ, ngớ ngẩn qua “hô teo song sắt” nằm đếm rệp đợi vợ đến thăm nuôi. Nửa tiếng sau, Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ nhận cú điện thoại. Một tiếng sau, bộ Ngoại Giao Thổ Nhĩ Kỳ gởi công hàm bày tỏ “quan ngại sâu sắc” về hành động của hai du khách từ …  Arizona.

Bên kia quả địa cầu, bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ họp khẩn cấp. Đài CNN chạy hàng tin đậm: “khủng hoảng nhà vệ sinh làm căng thằng quan hệ Mỹ - Thổ Nhĩ Kỳ”.

Chỉ mới nghĩ tới thôi, tôi đã thấy lạnh ở sống lưng. Hai tên nhìn nhau một hồi mới hay mình vừa thoát nạn. Hú hồn, mau qua nhà hàng thưởng thức “nghệ thực” kẻo mọi người chờ.

Cổ nhân dạy, trước khi nói, phải uốn lưỡi hay suy nghĩ 7 lần. Theo kinh nghiệm cá nhân tôi, phải suy nghĩ tới 70 lần 7. Trong trường hợp này, bài học được rút ra là trước khi “ra” thì phải “rút” lẹ, kẻo mang họa vào thân. Khi đi du lịch đến một đất nước lạ, phong tục lạ, mà người cũng lạ, trước khi làm cái gì, phải nhìn trước nhìn sau, nghĩ tới nghĩ lui đến … 70 lần 7, kẻo mang họa vào thân.

NGUYỄN VĂN TỚI. 7/2026. 
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.