Hôm nay,  

Tôi Và Bố

16/06/200700:00:00(Xem: 12662)

Tôi lớn lên trong thời Đệ Nhị Cộng-Hòa, Bố tôi là một viên-chức về hành chánh của Bộ-Nội-Vụ, trụ sở ông làm việc nằm ở góc đường Nguyễn-Du và Tự-Do (bây giờ đổi tên là Đồng-Khởi).  Thưở Mẫu-Giáo và Tiểu-Học, Bố cho tôi theo học ở trường Hòa-Bình, bên cạnh Nhà Thờ Đức Bà, đối diện Bộ-Nội-Vụ, chắc có lẽ để tiện việc đưa đón tôi.  Sau giờ tan học, Bố thường dẫn tôi vào sở vì ông còn làm việc đến hết giờ mới đưa tôi về nhà để Mẹ tôi lo cơm nước cho gia-đình.

 Trong ký ức tôi vẫn còn nhớ tấm thảm đỏ trải dài suốt dãy hành lang trong sở Bố, nhớ những cái xoa đầu tôi của ông “Xếp” (Boss) Bố là ông Lê-Công-Chất (Thứ-Trưởng Bộ-Nội-Vụ lúc bấy giờ). Nhớ hoài những viên kẹo ngọt, những hộp bánh “Bít-quy” (crackers) của mấy cô, mấy bà thư-ký làm việc cho Bố thường đem cho tôi ăn… Có lẽ vì thế mà tôi thân với Bố từ bé và ít khi nào kể cho Mẹ tôi nghe về những người đẹp trong sở Bố làm… (theo lời Bố dặn).

Đối với Bố tôi, bữa ăn trưa và ăn tối trong gia-đình là điều tối quan trọng không thể thiếu một thành viên nào trong nhà.  Ngày xưa, giờ giấc làm việc của các công-nhân-viên chức Việt-Nam theo chính sách của người Pháp đó là được nghỉ trưa từ 1 đến hai tiếng mỗi ngày.  Bố tôi đã bảo với Mẹ tôi và các chị tôi rằng: “Bà và các con dầu đi đâu cũng phải có mặt đầy đủ trong hai bữa ăn của gia-đình!” … Lời dặn chỉ có thế và mọi người trong nhà đều răm-rắp nghe theo.  Về sau này khi lớn lên tôi mới hiểu đó là cách Bố tôi giữ gìn hạnh-phúc gia đình và cũng là cách dễ nhất để ông có thể gần gũi vợ con, vì trong bữa ăn, mọi người đều kể cho nhau nghe về những diễn biến trong ngày, chúng tôi đều phải trình bày những khó khăn trong học-đường và xin ý kiến Bố-Mẹ.  Cũng như Mẹ thường lên kế hoạch để bàn định về những chỗ đi chơi cuối tuần (thí dụ như: đi Cấp, đi lên rẫy ở Long-Khánh hay đi Lái-Thiêu ăn trái cây v.v…) Nhờ vậy mà bây giờ tiền lệ đó đã được tôi áp dụng trong tiểu-gia-đình mình, nhưng chỉ được bữa ăn tối mà thôi vì làm việc ở Hoa-Kỳ không có giờ về nhà để nghỉ trưa.

Thưở lên mười một tuổi, lúc tôi theo học Trường Nữ Trung-Học Trưng-Vương, có lần Bố đưa tôi và Mẹ tôi đi Siêu-Thị ở đường Nguyễn-Du (gần sở Bố) gọi là chợ “P.X”. Hình như thời bấy giờ Saigon chỉ có một siêu-thị duy nhất bán đồ nhập cảng từ Mỹ.  Khi nhìn thấy một chiếc xe đạp mini gấp được làm đôi để có thể bỏ vào “cốp” (trunk) xe hơi, chiếc xe màu bạc óng ánh đã hấp dẫn tôi hơn kẹo sô-cô-la (chocolate), cà-rem (ice cream) hộp và bất cứ thứ gì chung quanh tôi lúc bấy giờ. 

Tôi đã ở lì trong siêu-thị không chịu đi về sau khi Mẹ đã mua xong những thứ cần thiết.  Khi Bố kéo tôi đi, tôi bỗng òa khóc nức nở và chỉ tay vào chiếc xe đạp nói rằng: “Con chỉ đi về khi Bố mua cho con chiếc xe đạp kia thôi!”. Trong đầu óc bé nhỏ của tôi lúc bấy giờ, bao nhiêu là hình ảnh thích thú hiện ra, nếu tự một mình tôi chạy xe (một kiểu xe đạp duy nhất mới có ở nước Việt-Nam thời bấy giờ, các bạn tôi chắc chắn sẽ vô cùng ngạc nhiên nếu tôi được tự đạp xe đến trường bằng chiếc xe này.  Vì phần lớn nhóm bạn chúng tôi gia-đình ai cũng khá giả, có tài-xế đưa đón và hơn nữa, người lớn đều xem chúng tôi là trẻ nhỏ không được đi học một mình vì sợ bị  “Mẹ Mìn” bắt cóc…)

Tôi còn nhớ phản ứng của Mẹ tôi là mặt bà đỏ bừng lên rồi chạy đến bên tôi ôn tồn bảo: “Con bé hư quá! Nín khóc ngay, không được nhõng nhẽo giữa chợ thế này.  Người ta cười Bố-Mẹ kìa!”.  Đựợc sự vuốt ve của Mẹ, tôi càng khóc lớn hơn vì cảm giác tủi thân chưa được Bố quan-tâm đến.  Tuy khóc nhưng mắt tôi vẫn dõi theo hành động của Bố, tôi thấy Bố đi hỏi giá chiếc xe đạp, sau đó ông quay lại nghiêm nghị bảo với tôi rằng : “Bố sẽ mua cho con với điều kiện là chỉ được chạy sau khi bố tập cho con lái, vì lái xe đạp không phải dễ đâu và con không được tự ý một mình đạp xe ra khỏi khuôn viên nhà, chỉ đạp trong vườn nhà hoặc khi lên rẫy chơi mà thôi, vì lái xe ra đường sẽ rất nguy hiểm”… Tôi gật đầu đồng ý ngay vì nào tôi có nghe rõ những lời Bố dặn, trong tâm thức tôi hình ảnh chiếc xe đạp mini gấp đã chiếm trọn, miễn làm sao tôi phải có nó bằng được thì tôi mới mãn-nguyện. 

Từ đó, mỗi buổi chiều, sau giờ cơm tối, Bố dạy tôi cách giữ thăng bằng để đạp xe, lúc đầu Bố vịn sau yên cho tôi chạy, rồi dần dần ông buông hẳn tay ra, tôi biết lái ngon lành…  Nhóm bạn thân của tôi gồm chín đứa, vì nhỏ con và học giỏi nên ba đứa ngồi một bàn chiếm ba cái bàn đầu trong lớp, đối diện với Giáo-sư. Thầy-Cô và mọi người vẫn thường gọi đám học trò ồn ào cao ngồng ngồi cuối lớp là “xóm nhà lá”.  Đứa bạn nào của tôi cũng mong mỏi tôi đạp xe đến trường để chúng chiêm ngưỡng và lái thử.  Tôi cố suy nghĩ nát óc để tìm ra phương kế. Thường thì Bố tôi có tài-xế lái xe cho Bố đi làm rồi đưa Bố về nhà ăn trưa và nghỉ trưa, giờ Bố nghỉ trưa là chú tài có nhiệm vụ chở tôi đến trường.  Đến chiều tan học, chú tài đến đón tôi trước rồi mới đón Bố từ sở về nhà tôi ở khu Tân-Định.  Đã đôi lần tôi dò la ý của Bố là tôi muốn được tự lập bằng cách đạp xe đến trường một mình,  Bố đã quắc mắt, gằn giọng bảo: “Con đã hứa với Bố như thế nào trước khi Bố mua xe cho con"”…Thế là tôi im ngay.

Cơ hội ngàn vàng đã đến với tôi, vì buổi trưa hôm ấy sau giờ ăn trưa, Bố tôi vào phòng nghỉ như thường lệ.  Mẹ tôi có công việc phải đi Đà-Lạt vài ngày. Tôi sửa soạn cặp-táp xong chạy xuống phòng trọ của chú tài bên cạnh phòng chị người làm, thấy chị Ba đang cạo gió cho chú tài. Tôi bảo: “Trời ơi! Chú Minh bị trúng gió rồi.  Chú nghỉ ở nhà đi để chút nữa còn đưa Bố đi làm, con đi xe đạp đến trường được rồi!” Cả hai người  đều trợn tròn mắt nhìn tôi.  Chị Ba nói ngay: “Không được đâu cô. Ông dặn tụi tui là coi chừng không cho cô đạp xe ra ngoài đường.” Chú tài mặt đỏ như gấc cũng nói theo: “Có bệnh gì tôi cũng ráng đưa cô Út đi, lỡ ông biết được tôi bị đuổi việc liền!” Tôi mới kể cho chị Ba và chú tài nghe về sự trông đợi của bạn bè tôi đựợc nhìn thấy chiếc xe đạp, nếu không một lần mang đến cho chúng nó xem thì chúng sẽ bảo tôi là thợ vẽ, làm gì có chiếc xe đạp mini bằng sắt mà gấp lại được…

Tôi đem tất cả khả năng “hùng-biện” của mình để thuyết phục hai người. Nhất là hôm ấy tôi biết trước mình được về sớm hai giờ cuối vì Thầy-Cô bận họp. Tôi nói rằng tôi sẽ đạp xe về nhà sớm, chú Minh không cần phải nói với Bố tôi điều gì cả, vì tôi cũng không muốn chú nói dối.  Buổi chiều khi Bố tan sở là tôi đã có mặt ở nhà rồi, sẽ không ai biết gì cả!” Thấy giọng tôi chắc ăn như bắp.  Chú Minh có vẻ xiêu lòng, phần vì chú có vẻ rất mệt.  Chị Ba run lẩy bẩy như sắp làm một chuyện động Trời. Mọi việc thu xếp xong, tôi ung dung đạp xe đến trường một mình lần đầu tiên trong đời, Saigon tháng sáu thường mưa nên hôm ấy Trời không có nắng, tôi rất thận trọng đạp từng vòng xe.  Người đi đường ai cũng nhìn tôi vì chiếc xe quá đặc biệt lần đầu tiên xuất hiện trên đường phố. Tôi nhớ là khi đến trường, tôi đã gởi chiếc xe yêu quý của tôi trong nhà bác lao-công ở trong trường và cho bác ít tiền. 

Đến giờ tan lớp, các bạn tôi xúm-xuýt, trầm trồ bu quanh chiếc xe, tìm cách gấp đôi lại rồi gỡ ra, tôi cho mỗi đứa chạy thử một vòng ở cuối con đường Nguyễn-Bỉnh-Khiêm.  Có đứa không biết đạp cũng đòi dẫn bộ đi cho oai. Con đường ngập xác lá vàng, có những trái “Giáng-Tiên” rơi xuống xoay vòng cầu đẹp như một bức tranh.  Chưa bao giờ tôi thấy mình hạnh-phúc như thế với bạn bè.  Bất thình lình, mây đen kéo tới, tôi quýnh lên từ giã các bạn để còn đạp xe về nhà sớm. 

Theo lộ-trình mỗi ngày chú tài đưa đi, tôi chạy dọc con đường Thống-Nhất (bây giờ đổi tên là Lê-Duẩn), đến đường Hai-Bà-Trưng quẹo tay mặt là sẽ về đến nhà.  Trời bỗng đổ mưa như trút nước, mưa mịt mù phố xá. Lần đầu tiên tôi được tắm mưa, cảm giác lạnh và sợ, tim tôi đập loạn lên nhưng chân vẫn không ngừng đạp.  Đến gần trước Tòa-Đại-Sứ Mỹ, tôi thấy xe mình lao vào một vật cản bằng sắt lù lù trước mặt, một cái “Rầm”, tôi té xuống đường, rách toạt vạt áo dài trắng, tôi thấy máu chảy ra từ cánh tay và rồi, một ông lính Mỹ trong quân-phục, đội nón sắt có chữ: “MP” gác trước cổng Tòa-Đại-Sứ chạy nhào tới bế xốc tôi lên, tôi bất tỉnh ngay lúc đó…    

Tôi bị sốt mê man mấy ngày liền, lúc lơ mơ tỉnh dậy  thấy Mẹ và Bố, sợ quá tôi lại ngất đi, không ăn uống gì được, Bố phải đưa tôi vào bệnh-viện “Đồn-Đất” để được tiếp nước biển cho tôi.  Bác-Sĩ người Pháp nói rằng tôi bị “Thương Hàn”. Một tháng trời tôi phải nằm viện, bỏ học vì cơn đau “thập tử nhất sinh”. Mẹ tôi cầu Trời, khấn Phật ngày đêm.  Bố tôi xanh xao vì lo lắng, ông cũng mất ăn, mất ngủ vì thương tôi quá…

Cuối cùng, tôi khỏi bệnh.  Ngày xuất viện về nhà, Bố mua cho tôi một bó hoa “Tulip” màu vàng rất đẹp, không một ai dám nhắc đến cái tai-nạn “chiếc xe mini gấp của tôi”. Chú tài-xế Minh không bị đuổi việc và chị Ba vẫn là người làm trong nhà. Khi ra nước ngoài, chị tôi mới kể rằng lúc bấy giờ, Bác-Sĩ cấm mọi người trong nhà nhắc đến chuyện đó! Bắt buộc những sinh-hoạt phải bình thường như trước lúc tôi gặp tai-nạn.

Đến năm 1981, Bố lo cho tôi đi vượt biển, tàu tôi may mắn được dàn khoan cứu vớt, tôi qua Úc định cư rồi vài năm sau, tôi lo thủ tục bảo lãnh cho Bố-Mẹ, các chị cùng đoàn tụ gia-đình. Suốt thời gian này tôi được dịp phụng-dưỡng Bố Mẹ để đáp đền phần nào tình-thương mà hai đấng Phụ-Mẫu đã dành cho tôi.

Sau này tôi qua Mỹ định-cư vì tư tưởng luôn tìm tòi, mạo hiểm và thích khám phá tôi đi chu du nhiều nơi trên thế-giới.  Lúc hay tin Mẹ lâm bệnh, tôi đã bay trở lại Úc để lo cho Mẹ tôi đến ngày bà nhắm mắt. Bố ở với các chị, tôi phải quay về Mỹ, vì lúc ấy tôi đã có gia-đình.  Đúng một năm sau ngày Mẹ mất. Một buổi chiều, đầu tháng tám, tôi nhận điện thoại từ Úc, hung tin báo rằng Bố tôi đang hấp hối, tôi xin bên nhà một bức điện thư của bệnh-viện chứng nhận để ra phi-trường được mua vé khẩn bay ngay đêm hôm ấy.  Bố tôi nhắm mắt lúc tôi đang bay ở trên Trời. 

Tới Phi-Trường Melbourne, làm thủ tục nhập cảnh xong , tôi bước ra ngoài gặp ngay một tiệm bán hoa.  Duy nhất một bó “Tulip” vàng nằm trong chậu xen lẫn với những bó hoa Hồng, LyLy, Cúc trắng… Nước mắt bỗng tuôn trào, tôi đến mua ngay bó hoa “Tulip” vàng ấy. Thuê xe tôi lái thẳng đến bệnh-viện, tôi đọc kinh suốt đoạn đường dài, đầu nhức như búa bổ, nhưng sao hình ảnh chiếc xe đạp mini gấp trong chợ “PX” năm nào hiện ra rất rõ.  Rồi đến khuôn mặt đỏ bừng của Mẹ khi tôi làm nũng, rồi đến hình ảnh Bố, cái nhìn nghiêm khắc nhưng đầy trìu mến của Bố bao trùm lấy tôi…

Đến cửa bệnh-viện, tôi mệt gần muốn xỉu.  Người ta cho biết xác Bố tôi đã được đưa vào phòng lạnh.  Tôi khóc ngất, đòi được nhìn xác Bố.   Các nhân-viên phải làm thủ tục ngay vì biết tôi mới từ Mỹ bay về.  Mười phút sau, một người y-tá dẫn tôi đi qua một hành lang dài hun hút im lìm hai dẫy phòng trắng toát màu vôi.  Tôi chợt nhớ đến dãy hành lang trải thảm đỏ trong sở Bố ngày xưa. Mắt tôi cay xé, đến trước một căn phòng với cánh cửa sắt thật dầy (có lẽ để giữ được độ lạnh phía bên trong), người y-tá khó khăn lắm mới đẩy được cánh cửa để đưa tôi vào. 

Một Thế-giới khác!  Lạnh toát và thật xa lạ, Bố tôi nằm thanh thản như ngủ trên một chiếc giường cũng bằng sắt lạnh, hai tay chắp trước ngực.  Đó là giấc ngủ ngàn thu của Bố, tôi xin người y-tá ra ngoài cho tôi được một mình với Bố.  Ông ta hỏi lại tôi bằng tiếng Anh: “Are you sure"” Tôi gật đầu bảo chỉ vài phút thôi.  Cánh cửa đóng lại sau khi người y-tá bước ra, tôi ôm chầm lấy xác Bố mà khóc nức nở.  Tôi ước gì những giọt nước mắt nóng của mình sẽ làm ấm lại thân thể đóng băng của Bố tôi.  Tôi đặt bó hoa “Tulip” vàng gọn gàng trên ngực Bố.

Bó hoa “Tulip” vàng được liệm cùng xác Bố tôi, thay cho lời tạ lỗi mà tôi không có dịp để tỏ bày khi Bố còn sống về vụ việc năm xưa.

Bây giờ ở Hoa-Kỳ, mỗi khi ngày Lễ Father’s Day đến, tôi đều tìm mua một tấm thiệp có hình hoa “Tulip” vàng đề vào đó ba chữ: “Con Yêu Bố!” rồi đốt đi như gửi vào đất, vào gió tình của tôi và Bố./.

(www.diamondbichngoc.com)

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.