Hôm nay,  

Prince Nhớ Bạn

09/02/200900:00:00(Xem: 7422)

Prince nhớ bạn
Prince, Coco và Tiger.


Trần Văn Sơn


Prince sinh tại vùng ngoại ô Philadelphia năm nay chừng 9 tuổi đời.
Thế giới xưa nay biết bao nhiêu chuyện về chó được lưu truyền, nhất là ở Tây phương. Chó chết theo chủ, chó hy sinh cứu chủ, chó hiểu tiếng người, chó được huấn luyện săn sóc người tàn tật, chó tham gia trận mạc bên cạnh chủ … Người Tây phương đặc biệt cưng chó.
Câu chuyện tôi sắp kể với quý vị là tình bạn của chú Prince, một tình cảm kín đáo tôi nhận được một cách bất ngờ. Bất ngờ, vì tôi là người vốn không thích và chưa hề nuôi chó. Và tôi chỉ là một người bạn thoáng qua cuộc đời của Prince.
Hồi còn nhỏ, nói cho rõ là cách đây 70 năm, lúc tôi chừng 5 hay 6 tuổi ba mẹ tôi có nuôi một con chó mực. Một mầu đen tuyền từ đầu đến đuôi trông rất mát mắt. Thời đó người Việt Nam nuôi chó để giữ nhà và giúp vệ sinh nhà cửa là chính. Chó thường được huấn luyện sủa, cắn chứ không phải để cho chủ nhà hay các em nhỏ - như tôi cuối thập niên 1930- bồng bế âu yếm. Không quen được chủ nhà săn sóc nuông chiều, chú mực nhà tôi không thích ai vuốt ve mình. Chạm đến mình, nó  tưởng đánh đuổi nó và sẵn sàng chống lại. Nhưng chú mực của ba má tôi làm nhiệm vụ giữ nhà rất tốt. Người lạ vào nhà nó sủa vang, nhảy chồm lên dọa nạt cho đến khi chính ba, mẹ hay anh chị lớn của tôi bảo mới thôi. Tôi nhỏ nó không sợ. Và không bao giờ cho phép tôi chạm đến mình nó.
Một hôm tôi nghịch kéo đuôi nó. Đau, nó gầm gừ quay lại ngoáp mồm định cắn làm tôi phải một buổi hoảng hồn. Từ đó tôi tránh xa nó mặc dù ở cùng một nhà sớm hôm vẫn thấy nhau và tôi trở nên có ác cảm với chó. Lớn lên tôi chưa từng dám vuốt ve một chú chó nào dù nhỏ hay lớn, bề ngoài hiền hay dữ … cho đến khi tôi gặp chú Prince.
Từ California, năm 1995 tôi sang Philadelphia mở một văn phòng dịch vụ Di Trú và Bảo lãnh. Một người bạn của tôi, Mary, cũng có một văn phòng dịch vụ ở đó.
Mary là người yêu thương gia súc, nhất là chó.
Một hôm Mary nhờ tôi lái xe ra vùng ngoại ô Philadelphia để bắt một chú chó con cô vừa đặt mua qua điện thoại.
Đường xa, sau hai giờ lái xe ra vùng ngoại ô, chúng tôi đến trang trại của bà Timonov. Bà Timonov gốc Nga, bố mẹ chạy nạn thời khủng bố của Stalin sang Mỹ và sinh bà ở Pennsylvania. Bà là con gái út. Bà nối nghiệp bố mẹ nuôi chó giống để bán. Bà không làm ăn lớn, chỉ nuôi chừng năm sáu cặp giống đặc biệt, và lưu giữ hồ sơ đầy đủ. Hồ sơ gồm dòng giống của bố mẹ, giấy khai sinh, lịch trình chủng ngừa, nhỏ mắt … Đến trại bà – nói là trại, thật ra chỉ là ngôi nhà có một phòng khách và sân khá rộng, bày đầy thùng giấy và thùng nhựa làm chuồng cho các cô chú mới sinh. Những con chó lớn hơn chạy tung tăng chơi giỡn với nhau.
Bước vào phòng khách mùi chó phảng phất, không hôi hám lắm nhưng cũng không có gì thú vị. Mary nói chuyện với bà Timonov, chọn một chú mới sinh chừng hai tuần lễ. Lông nó mịn màn, trắng như tuyết, lưng điểm đốm đen, viền đen phủ nhẹ đôi mắt và một nửa đôi tai trông thật xinh. Bà Timonov bế nó ra khỏi một cái chuồng bằng nhựa trắng. Cảm thấy sắp phải xa anh chị và bạn bè nó trườn lại muốn trở vào chuồng. Mary nhận nó từ tay bà Timonov và bằng một lối bày tỏ cảm tình chỉ có nó hiểu bỗng nhiên nó êm ru trên đôi cánh tay của Mary. Nó liếm vào cổ tay trần của Mary ra chiều thân thiện và chiếm đoạt ngay được cảm tình và sự trìu mến của Mary. Bà Timonov lục trong một chiếc tủ đặt trong phòng khách lấy ra xấp hồ sơ lý lịch của chú bé.
Nghề nuôi chó giống để bán đòi hỏi nhiều thủ tục. Mỗi chú hay mỗi cô chó đều phải có giấy tờ lý lịch. Và như các hoàng đế ngày xưa sự chung đụng giữa một chú nam và một cô nữ đều được theo dõi và ghi chép để khi một cô có bầu bà Timonov biết rõ đàn con sắp sinh ra thuộc dòng tộc nào và bố chúng là ai. Khi sinh ra mỗi chú hay cô đều có giấy khai sinh ghi giống của bố mẹ (khác với người, khai sinh của các cô chú hoàng tôn công chúa này không có tên của bố mẹ), và hồ sơ chủng thuốc ngừa bệnh.
Giấy khai sinh của chú bé ghi sinh ngày 15/6/2000 thuộc giống Chin, một giống chó Nhật thông minh, ít bệnh và dễ nuôi. Mary hài lòng mọi chi tiết và đồng ý với giá 500 mỹ kim. Bà Timonov nhỏ mắt và chích thuốc lần cuối cho chú bé, đặt chú vào một thùng lót giấy, giao xấp giấy tờ lý lịch cho Mary.
Trên đường về chú nhỏ nằm trong hộp đặt nơi ghế sau cảm thấy cô đơn hay chưa quen với sự di chuyển kêu ăng ẳng làm cho Mary rất sốt ruột.
Mary đặt tên cho chú nhỏ là Prince – hoàng tử nhỏ - Một tuần sau Mary mang về cho Prince một cô bạn đặt  tên là Coco cùng giống, lông trắng điểm đen. Prince và Coco chơi đùa với nhau như hai trẻ nhỏ và khoảng một năm sau Coco có bầu. Mấy tháng sau Coco sinh 5 chú con, trai có gái có mình trắng tuyết điểm đốm đen như bố mẹ, mỗi chú mỗi cô một kiểu như một bầy công tử và công chúa trông rất đẹp mắt. Mary chia cho bạn bè 4 con và giữ lại một chú, đặt tên là Tiger. Tiger mạnh nhất trong đám anh chị em. Đặc điểm của Tiger là ngoài một đốm đen lớn trên lưng và tai vá đen trắng, đôi mắt được phủ một viền đen thật đậm trông như một nghệ sĩ đa tình.
Bộ ba Prince, Coco và Tiger sống với nhau bình đẳng và tỏ ra rất yêu thương nhau, tuy không có gì chứng tỏ chúng biết quan hệ giữa nhau với Tiger, ngoài việc Prince và Coco vẫn đối đãi nhau như một cặp nhân tình. Như đã nói tôi không yêu chó, nên nếu có quan tâm đến bộ ba Prince, Coco và Tiger là vì chúng nó đẹp và nhận biết sự quan hệ bạn bè giữa tôi và Mary. Mỗi lần tôi đến thăm Mary chúng đều nhảy xô vào tôi như bạn thân lâu ngày mới gặp, riêng Prince thường hay sán lại nằm gần tôi để được tôi gãi đầu gãi tai. Tôi cho rằng mỗi chú mỗi tính chứ không nghĩ  Prince biết tôi là người đã đi lãnh nó từ nhà bà Timonov lúc nó mới 14 ngày tuổi mỏng manh như một cánh hoa hồng trước gió.


Năm 2001 tôi trở về California.
Cuối năm 2008 tôi đi thăm một người bà con bên ngoại ở Paris bị bệnh, đồng thời đến thành phố Apeldorn, Hòa Lan thăm Nhơn, người bạn học cùng quê trở thành cháu rễ do quan hệ hôn nhân của anh ấy với người cháu, cô Juliette gọi tôi bằng cậu xa xa. Từ Paris gọi thăm và được cho hay Nhơn vừa té lăn nơi thang gác trong nhà và bị chấn thương đầu.
Thời gian đó Mary đang nghỉ hè tại Paris với 3 cô cậu Prince, Coco và Tiger. Tôi đến thăm Mary và ở lại chơi một hôm trước khi trở về Hoa Kỳ. Nhà Mary gồm một phòng khách vừa dùng làm phòng ăn cơm, nơi ban ngày ba cô chú nhỏ chơi đùa và tung tăng chạy nhảy quanh chủ nhà. Bên cạnh là nhà bếp và tiếp theo là phòng ngủ của Mary và ba cô chú. Phòng dành cho khách kế bên trông ra hồ Torci. Nhằm mùa thu Paris lá vàng rụng đầy bờ hồ. Mặt nước hồ lấp loáng qua mấy hàng cây trông như một bức tranh. Vào cửa chính của căn nhà rẽ trái là phòng khách, rẽ phải là phòng ngủ dành cho khách.
Các cô chú bé có một thói quen. Đi bát phố, đi chợ, hay đi dạo bờ hồ trở về, các chú chờ Mary mở cửa là ùa vào nhà, nhắm mắt rẽ trái chạy vào phòng khách tìm chỗ tốt trên ghế xa lông để nằm.
Hôm Mary đưa tôi ra phi trường Charles de Gaulle trở về Hoa Kỳ, các chú Prince, Coco và Tiger được tháp tùng. Chuyến bay của tôi dừng chân ở Philadelphia thay phi hành đoàn và đổ đầy nhiên liệu trước khi bay tiếp trả tôi về Los Angeles. Mary lái xe, tôi ngồi bên phải, và ba chú bé Prince, Coco và Tiger nằm ngồi ở ghế sau. Đường sá Paris không ngay hàng thẳng lối như ở Hoa Kỳ, nhưng nhờ máy tọa độ GPS, Mary đã đổ tôi ở cửa vào của hãng US Airways ở phi trường chính xác và đúng giờ. 
Tôi bước xuống kéo hành lý và quay lại chào Mary. Tôi thấy chú Prince chồm ra cửa kính hông nhìn tôi, sủa khẽ khàng, hai chân quệt quệt vào kính xe như muốn nhắn gởi tôi một điều gì.  Sau lưng là hai mẹ con Coco và Tiger cũng muốn chườn ra trước nhưng không đủ can đảm lấn chỗ của Prince. Tôi bước qua cửa chắn gió của hãng máy bay và trước khi khuất vào bên trong tôi vẫy chào Mary. Chú Prince vẫn đứng nơi kính hông nhìn tôi chăm chú như muốn nói lời tiễn biệt.
Đăng ký hành lý và làm thủ tục lên máy bay xong, tôi theo hướng chỉ dẫn vào khu cách ly. Phi trường Charles de Gaulle không thay đổi nhiều so với lần trước tôi đến Paris cách đây 7 năm. Vẫn lối kiến trúc cầu kỳ với những lối đi ngoằn nghèo, lên xuống dẫn từ quầy hành khách vào bên trong bằng những lối nhỏ lót cao su di động theo chiều dọc. Đến khu cách li tôi mua một ly nước cam ngồi nghỉ chờ lên máy bay. Đang lim dim tôi chợt nghe thông báo chuyến bay Paris – Philadelphia đổi cỗng. Tôi đến quầy US Airways, tại đó có hai cô nhân viên, một đen một trắng. Tôi hỏi cô đen chuyến bay của tôi đổi qua cỗng số mấy. Cô nhìn tôi rồi cúi xuống tiếp tục mài móng tay dường như cô không phải là nhân viên của hãng US Airways. Ngạc nhiên tôi quay qua hỏi cô trắng. Cô trắng nhìn qua cô đen mĩm cười trả lời tôi và giải thích “she is too happy to work”. Tôi chợt hiểu cô đen vui gì. Ông Barack Obama vừa đắc cử tổng thống Hoa Kỳ mấy tuần trước. Việc này làm tôi liên tưởng đến cảnh tượng diễn ra trên chuyến bay số 2 của hãng US Airways từ Philadelphia đi Paris hơn một tuần lễ trước đó. Sau khi máy bay đạt được độ cao sắp sửa bình phi, đoàn phục vụ (stewards) chuẩn bị mang nước đến mời khách tôi thấy một người phục vụ da đen đi dọc theo hành lang giữa hai hàng hành khách vừa đi vừa nhún nhẩy và huýt sáo. Các nhân viên phục vụ khác vẫn làm công việc của mình để yên cho người phục vụ da đen thích thú với điệu vũ nhỏ của mình. Ông Obama đắc cử vừa hơn một tuần. Tôi nhận ra người đa đen trên toàn thế giới đang vui cái vui không ngờ tới được trong quảng đời của họ và chợt nhận ra người da trắng thật độ lượng và thông cảm.
Chuyện dọc đường lẩm cẩm làm tôi quên chú Prince. Hơn nữa tôi chỉ gặp chú năm thì mười họa. Mệt nhọc sau những ngày ở Paris, lái xe đi Amsterdam, Apeldorn, Brussels, Villebon sur Yvette tôi ngủ thiếp trên đường Paris-Philadelphia dài 8 giờ bay.
Tại phòng đợi phi trường Philadelphia chờ đổi máy bay đi Los Angeles, tôi gọi viễn liên báo cho Mary biết tôi đã về tới Hoa Kỳ bình an.
- “Có chuyện thật là lạ.” Mary đi ngay vào chuyện, không một lời hỏi han hành trình của tôi.
- “Chuyện lạ gì vậy"” Tôi hỏi, đoán có tin lạ trên thế giới xảy ra trong 8 giờ đồng hồ tôi ngồi trên máy bay.
- Mary thuật: “Từ phi trường Charles de Gaulle về đến nhà em vừa mở cửa, Coco và Tiger chạy về phía trái tìm chỗ nằm, trong khi Prince một mình rẽ về phía bên phải. Em ngạc nhiên xem nó đi đâu ngược lối ngày thường thì thấy nó đi vào phòng anh, nhảy lên giường nằm khoanh tròn ngay trên chiếc gối của anh đã dùng. Thì ra nó linh cảm anh đã đi rồi và muốn giữ một chút hơi hướm của một người bạn vừa đi xa.”
Tôi choáng váng vì ngạc nhiên và cảm động. Tiếc là Prince không nói được tiếng người.
Đã bao nhiêu năm kể từ cái ngày tôi giúp Mary đi đón Prince từ một thung lũng xa xôi trong vùng Valley Forge!  Và cũng chỉ chừng đó thôi.
Trần Văn Sơn
Feb. 9, 2009
[email protected]
www.tranbinhnam.com

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.