Hôm nay,  

Afghanistan: Chiến Lược Mới

08/12/200900:00:00(Xem: 7600)

Afghanistan: Chiến Lược Mới

Vũ Linh

...năm 2011 bắt đầu “tháo chạy” cho đến năm 2013 là hạn chót, bất kể thắng bại...
Sau ba tháng trằn trọc suy nghĩ, họp bàn thượng đỉnh tới lui trong nội các, cuối cùng thì TT Obama đã có quyết định về chiến lược mới tại Afghanistan.
Điều làm cho mọi người ngạc nhiên là chiến lược mới này… chẳng có gì đáng ngạc nhiên, mà lại có vẻ đúng theo mô thức nhiều người đã tiên đoán: đó là "mô thức Obama", hứa hẹn đủ thứ cho mọi người, mỗi người được thỏa mãn chút đỉnh để rồi chẳng ai cảm thấy thỏa mãn, và mọi người đều bất mãn. Quan trọng hơn nữa, chiến lược mới có vẻ khó thành công mà chỉ là một canh bạc khổng lồ.
Tháng Ba đầu năm nay, sau khi được chính quyền Bush phúc trình đầy đủ về tình trạng cuộc chiến và sau khi suy tư gần sáu tháng, tân TT Obama long trọng tuyên cáo chiến lược mới trong cuộc chiến ông gọi là “cuộc chiến cần thiết” (war of necessity). Ông ra lệnh thay Tư Lệnh Chiến Trường và tăng hơn hai chục ngàn quân.
Đến tháng Tám, trước sự suy sụp mau chóng của tình hình chiến sự, tân Tư Lệnh Chiến Trường, tướng McChrystal xin tăng quân khẩn cấp sáu chục ngàn, tối thiểu là bốn chục ngàn, nếu không thì Mỹ sẽ thất bại trong vòng một năm tới. TT Obama nhận được tin khẩn, suy nghĩ mất hơn ba tháng, họp Hội Đồng An Ninh gần mười lần, mới đi đến một quyết định mà hầu hết bàn dân thiên hạ đều đã đoán được từ mấy tháng trước.
Giữa mức tối đa 60 ngàn quân như yêu cầu của tướng McChrystal, và tối thiểu là không gửi gì thêm, TT Obama lấy quyết định ba phải là… cắt đôi, cho thêm 30 ngàn. TT Obama quyết định tăng quân lập tức, nhưng đồng thời cũng ấn định ngày bắt đầu… rút quân, tháng Bẩy năm 2011.
Quyết định này, đúng như dự đoán, được cả hai phe Dân Chủ cấp tiến và Cộng Hòa bảo thủ vừa hoan hô vừa chỉ trích.
Phe cấp tiến đả kích việc đôn quân nhưng hoan hô lịch trình rút quân. Phe bảo thủ hoan hô việc đôn quân và đả kích lịch trình rút quân. Tình trạng chính trị Mỹ đã đi đến giai đoạn phân hóa cùng cực, với hai chính đảng chống đối nhau như trắng với đen trong bất cứ vấn đề gì, khiến chẳng ai còn hiểu quyền lợi chung của đất nước ở đâu nữa.
Phe cấp tiến chỉ trích việc đôn quân sẽ gây tốn kém lớn cho ngân sách và tăng số tử vong cho quân nhân Mỹ. Lý luận của phe cấp tiến chống đối việc tăng quân không vững chút nào mà còn có vẻ gượng gạo. Khi TT Obama tung ra các kế hoạch khổng lồ đưa đến thâm thủng ngân sách gần 12.000 tỷ trong 10 năm tới, họ hoan hô hết mình. Nhưng khi TT Obama tăng ba chục ngàn quân với chi phí tổng cộng 30 tỷ thì họ la hét là tốn kém. Về số tử vong, hình như họ không để ý đến chuyện trong suốt tám năm cuộc chiến Afghanistan, số quân nhân tử vong chưa bằng con số thường dân chết trong một ngày 9/11.
Điều thực sự làm cho phe cấp tiến lo lắng và bực mình là khi nghe TT Obama nói về lý do tăng quân, họ có cảm tưởng như đang nghe cố TT Johnson giải thích việc leo thang chiến tranh tại Nam Việt Nam gần nửa thế kỷ trước. Hay kinh khủng hơn nữa, họ có cảm giác hình như đang nghe kẻ thù Bush đọc diễn văn. Họ hớn hở tranh đấu và vào phòng phiếu bầu cho Obama để chấm dứt chiến tranh chứ đâu phải để nghe chuyện đôn quân tại Afghanistan y hệt cuộc đôn quân tại Iraq của Bush. Nếu muốn chiến tranh thì họ đã bầu cho ông cựu quân nhân người hùng John McCain, chứ đâu đã bầu cho anh cựu sinh viên chuyên gia “tổ chức cộng đồng”!
TT Obama dĩ nhiên là ý thức rõ vấn đề này. Nhưng sau khi đã hùng hồn chứng minh cuộc chiến Afghanistan là “cần thiết” và thay đổi tư lệnh, thì điều rõ ràng không kém là TT Obama không thể phủi tay, không thoả mãn những đòi hỏi của tướng McChrystal được. Há miệng mắc quai. Do đó, việc tăng quân là điều không tránh được. Nhưng không biết phải tăng bao nhiêu, thôi thì chia đôi cho tiện việc sổ sách.
Rồi đến vấn đề lịch trình rút quân. Tăng quân thì bảo đảm sẽ bị phe cấp tiến, phe thiên tả, phe phản chiến, là những thành phần cử tri trụ cột của Dân Chủ chống, thành ra phải có tý quà cáp cho họ. Coi như để trấn an khối cấp tiến phe ta, TT Obama đã đưa ra tiếp một lịch trình rút quân rõ rệt, kể từ giữa năm 2011 đến cuối năm 2013. Và đây có lẽ là vấn đề khó hiểu nhất.
Trong lịch sử nhân loại, đã có cả trăm ngàn cuộc chiến lớn nhỏ, nhưng có lẽ chưa bao giờ lại có một cuộc chiến có lịch trình được đơn phương ấn định trước, bất kể điều kiện thắng thua trên chiến trường! Một “thay đổi mà chúng ta có thể tin được”" (Change we can believe in)
Trước hết là vấn đề mục đích của cuộc chiến.
Tại sao tiếp tục cuộc chiến cho đến tháng Bảy năm 2011 là bắt đầu “tháo chạy” cho đến năm 2013 là thời hạn chót, bất kể thắng bại" Nếu kết quả thắng bại không quan trọng thì đánh nhau tiếp tục từ giờ đến đó để làm gì" Hy sinh tính mạng của hàng trăm hàng ngàn thanh niên và tốn cả trăm tỷ mỗi năm trong mấy năm tới để làm gì" Ngược lại, nếu thắng bại là chuyện quan trọng, thì sao lại có thể ấn định đúng ngày đúng tháng ra đi" Sao biết được lúc đó đang thua hay đang thắng" Đã thua hay đã thắng"


Mục đích thực sự của cuộc chiến là gì" Vài ngày trước khi công bố quyết định, TT Obama đã “bật mí” phần nào kế hoạch của ông để chuẩn bị dư luận. Ông tuyên bố ông quyết tâm “hoàn tất công tác” (finish the job). Ngay khi đó, điều làm nhiều người nghi ngờ ngay là ông đã tránh định nghĩa rõ ràng thế nào là “hoàn tất công tác”, công tác gì" Giết Osama Bin Laden" Tiêu diệt Al Qaeda" Tiêu diệt Taliban" Tiêu diệt khủng bố toàn cầu" Afghanistan-hóa cuộc chiến" Xây dựng dân chủ tại Afghanistan"
Không cần biết “công tác” của TT Obama là gì, làm sao có thể khẳng định công tác đó sẽ hoàn tất đúng ngày đúng tháng được" Chiến tranh chứ có phải mang bầu đâu mà biết được rõ ràng đúng chín tháng mười ngày sẽ “hoàn tất”"
Nếu lúc đó Bin Laden chưa bị giết, Al Qaeda chưa bị tiêu diệt, khủng bố vẫn hoành hành ngay trên đất Afghanistan thì sao" Nếu Al Qaeda nằm im chờ tới sau khi quân Mỹ rút rồi mới bắt đầu tái xuất giang hồ, đánh chính quyền Karzai thì sao" Mỹ vẫn cứ rút" Rồi Al Qaeda và đồng minh Taliban chiếm Afghanistan, biến xứ này trở thành hậu cứ của khủng bố toàn cầu trở lại thì sao" Mỹ ngồi chờ một 9/11 thứ hai" Hay là lại mang quân trở vào Afghanistan lại"
Trước những câu hỏi hiển nhiên trên, quyết định đôn quân lại còn khó hiểu hơn nữa.
Phe Cộng Hòa hoan nghênh quyết định này mà không giải thích được tại sao đôn quân lại là quyết định khôn ngoan đáng ủng hộ.
Ba chục ngàn quân đó ít hơn số tối thiểu mà vị tư lệnh chiến trường cần, vậy thì gửi vào chiến trường làm gì" Để họ bị thương và chết với mục đích gì" Hay nói cho đúng hơn, có thể đạt được mục đích gì với sự gia tăng đó" Gia tăng để ổn định chiến trường" Hay để chiến thắng" Hay chỉ để giúp huấn luyện quân lực Afghanistan" Hay để chứng minh tính “cần thiết” của cuộc chiến tại đây" TT Obama hy vọng đạt được gì với số quân ít oi đó trong thời gian ngắn ngủi nhất định đó"
Và nếu đã nhất định rút vào ngày tháng nhất định bất kể được thua, thì gửi quân vào thêm làm gì" Để bảo vệ một cuộc tháo chạy, giống như báo “phe ta” New York Times nhận định, một cách “quản lý thất bại” (managing a failure)"
Cả trăm câu hỏi mà bất cứ một thường dân nào cũng có thể hỏi được, chứ không cần phải là cựu tướng lãnh, chuyên gia phân tách chiến trường cho CNN hay Fox News.
Trên căn bản, quyết định của TT Obama hiển nhiên là quyết định trong thế bí, tiến thoái lưỡng nan, muốn thỏa mãn tất cả mọi người theo kiểu mỗi người đều có phần bánh, nhưng lại là phần nhỏ xíu, chẳng ai đủ no, nên chẳng ai vui.
TT Obama nhiều lần xác định cần phải có một sách lược rút ra (exit strategy) chứ không thể ký một thứ chi phiếu trắng (blank check) không giới hạn về tốn phí cũng như thời gian. Đó là một quyết định đúng đắn đáng hoan nghênh. Nhưng theo nhiều quan sát viên, điều TT Obama cần làm là tăng quân, rồi ấn định một số chỉ tiêu quân Mỹ phải đạt được trên phương diện quân sự, như chính quyền của TT Afghanistan Karzai phải đạt được trên mặt chính trị. Nếu đạt được thì Mỹ có quyền ca khúc khải hoàn và rút về “trong danh dự” như Kissinger đã mong muốn cho tình trạng Việt Nam ngày xưa. Nếu không đạt được, thì Mỹ sẽ chấp nhận đã cố gắng hết sức mình nhưng không đạt được mục tiêu, và rút lui vì cuộc chiến sẽ đi xa hơn cái giá mà chính quyền Obama có thể chấp nhận được. Mục tiêu quân sự và chính trị cần phải được đặt ra rõ rệt để làm mốc cụ thể cho một sách lược đánh cũng như cho một sách lược rút.
Nhưng tuyệt đối không thể ấn định lịch trình rút với ngày tháng nhất định mà không có mục tiêu sách lược nào cả. Đó là một cuộc tháo chạy vô điều kiện chứ không phải là sách lược rút quân.
Có lập luận cho rằng TT Obama quyết định tăng quân rồi định ngay ngày rút vì ông tin tưởng số tăng viện sẽ đủ sức giúp Mỹ đạt được một số mục tiêu quân sự và chính trị giới hạn nào đó, hạ cấp Al Qaeda và Taliban xuống tư thế một nhóm du kích địa phương mà quân đội Afghanistan có thể kềm chế được, để rồi có thể dựa trên những thành quả đó, quân Mỹ kịp thời rút về trước mùa bầu cử năm 2012.
Nhìn vào lịch trình rút quân, người ta không khỏi đặt vấn đề về mặt trái của tính dân chủ của Mỹ: các cuộc bầu cử rõ ràng đã hoàn toàn chi phối mọi chính sách kinh tế cũng như xã hội, y tế hay quân sự. Sách lược kinh bang tế thế nếu không phải là công cụ cho chiến thuật bầu cử nhất thời thì cũng bị lệ thuộc vào lịch trình bầu cử.
Nếu lịch trình rút quân thực sự bị chi phối bởi cuộc bầu tổng thống năm 2012, thì chẳng những thật tai hại cho quyền lợi lâu dài của nước Mỹ, mà quả thực TT Obama đã đánh một canh bạc khổng lồ có thể quyết định tương lai chính trị của ông.
Cuộc rút quân sẽ bắt đầu quá gần mùa tranh cử. Nếu ông thành công trong chiến lược mới như dự tính thì nhất định Afghanistan sẽ trở thành yếu tố quyết định trong cuộc tranh cử, có thể khoả lấp những thất bại khác nếu có của ông. Ngược lại, nếu chiến lược ông thất bại, hay gặp khó khăn, ông sẽ không còn kịp thời giờ trở tay hay giải thích.
Xác suất thất bại có phần lớn hơn xác suất thành công khi ta nghĩ lại Mỹ đã không giải quyết được cuộc chiến trong tám năm trời, bây giờ chỉ với thêm ba chục ngàn quân mà lại có thể giải quyết cuộc chiến trong một năm rưỡi sao" Đúng ra là có một năm thôi, vì cũng phải mất ít nhất nửa năm nữa số quân tăng viện mới đến Afghanistan được. (6-12-09)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi Thứ Ba.

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.