Hôm nay,  

Afghanistan: Chiến Lược Mới

08/12/200900:00:00(Xem: 7597)

Afghanistan: Chiến Lược Mới

Vũ Linh

...năm 2011 bắt đầu “tháo chạy” cho đến năm 2013 là hạn chót, bất kể thắng bại...
Sau ba tháng trằn trọc suy nghĩ, họp bàn thượng đỉnh tới lui trong nội các, cuối cùng thì TT Obama đã có quyết định về chiến lược mới tại Afghanistan.
Điều làm cho mọi người ngạc nhiên là chiến lược mới này… chẳng có gì đáng ngạc nhiên, mà lại có vẻ đúng theo mô thức nhiều người đã tiên đoán: đó là "mô thức Obama", hứa hẹn đủ thứ cho mọi người, mỗi người được thỏa mãn chút đỉnh để rồi chẳng ai cảm thấy thỏa mãn, và mọi người đều bất mãn. Quan trọng hơn nữa, chiến lược mới có vẻ khó thành công mà chỉ là một canh bạc khổng lồ.
Tháng Ba đầu năm nay, sau khi được chính quyền Bush phúc trình đầy đủ về tình trạng cuộc chiến và sau khi suy tư gần sáu tháng, tân TT Obama long trọng tuyên cáo chiến lược mới trong cuộc chiến ông gọi là “cuộc chiến cần thiết” (war of necessity). Ông ra lệnh thay Tư Lệnh Chiến Trường và tăng hơn hai chục ngàn quân.
Đến tháng Tám, trước sự suy sụp mau chóng của tình hình chiến sự, tân Tư Lệnh Chiến Trường, tướng McChrystal xin tăng quân khẩn cấp sáu chục ngàn, tối thiểu là bốn chục ngàn, nếu không thì Mỹ sẽ thất bại trong vòng một năm tới. TT Obama nhận được tin khẩn, suy nghĩ mất hơn ba tháng, họp Hội Đồng An Ninh gần mười lần, mới đi đến một quyết định mà hầu hết bàn dân thiên hạ đều đã đoán được từ mấy tháng trước.
Giữa mức tối đa 60 ngàn quân như yêu cầu của tướng McChrystal, và tối thiểu là không gửi gì thêm, TT Obama lấy quyết định ba phải là… cắt đôi, cho thêm 30 ngàn. TT Obama quyết định tăng quân lập tức, nhưng đồng thời cũng ấn định ngày bắt đầu… rút quân, tháng Bẩy năm 2011.
Quyết định này, đúng như dự đoán, được cả hai phe Dân Chủ cấp tiến và Cộng Hòa bảo thủ vừa hoan hô vừa chỉ trích.
Phe cấp tiến đả kích việc đôn quân nhưng hoan hô lịch trình rút quân. Phe bảo thủ hoan hô việc đôn quân và đả kích lịch trình rút quân. Tình trạng chính trị Mỹ đã đi đến giai đoạn phân hóa cùng cực, với hai chính đảng chống đối nhau như trắng với đen trong bất cứ vấn đề gì, khiến chẳng ai còn hiểu quyền lợi chung của đất nước ở đâu nữa.
Phe cấp tiến chỉ trích việc đôn quân sẽ gây tốn kém lớn cho ngân sách và tăng số tử vong cho quân nhân Mỹ. Lý luận của phe cấp tiến chống đối việc tăng quân không vững chút nào mà còn có vẻ gượng gạo. Khi TT Obama tung ra các kế hoạch khổng lồ đưa đến thâm thủng ngân sách gần 12.000 tỷ trong 10 năm tới, họ hoan hô hết mình. Nhưng khi TT Obama tăng ba chục ngàn quân với chi phí tổng cộng 30 tỷ thì họ la hét là tốn kém. Về số tử vong, hình như họ không để ý đến chuyện trong suốt tám năm cuộc chiến Afghanistan, số quân nhân tử vong chưa bằng con số thường dân chết trong một ngày 9/11.
Điều thực sự làm cho phe cấp tiến lo lắng và bực mình là khi nghe TT Obama nói về lý do tăng quân, họ có cảm tưởng như đang nghe cố TT Johnson giải thích việc leo thang chiến tranh tại Nam Việt Nam gần nửa thế kỷ trước. Hay kinh khủng hơn nữa, họ có cảm giác hình như đang nghe kẻ thù Bush đọc diễn văn. Họ hớn hở tranh đấu và vào phòng phiếu bầu cho Obama để chấm dứt chiến tranh chứ đâu phải để nghe chuyện đôn quân tại Afghanistan y hệt cuộc đôn quân tại Iraq của Bush. Nếu muốn chiến tranh thì họ đã bầu cho ông cựu quân nhân người hùng John McCain, chứ đâu đã bầu cho anh cựu sinh viên chuyên gia “tổ chức cộng đồng”!
TT Obama dĩ nhiên là ý thức rõ vấn đề này. Nhưng sau khi đã hùng hồn chứng minh cuộc chiến Afghanistan là “cần thiết” và thay đổi tư lệnh, thì điều rõ ràng không kém là TT Obama không thể phủi tay, không thoả mãn những đòi hỏi của tướng McChrystal được. Há miệng mắc quai. Do đó, việc tăng quân là điều không tránh được. Nhưng không biết phải tăng bao nhiêu, thôi thì chia đôi cho tiện việc sổ sách.
Rồi đến vấn đề lịch trình rút quân. Tăng quân thì bảo đảm sẽ bị phe cấp tiến, phe thiên tả, phe phản chiến, là những thành phần cử tri trụ cột của Dân Chủ chống, thành ra phải có tý quà cáp cho họ. Coi như để trấn an khối cấp tiến phe ta, TT Obama đã đưa ra tiếp một lịch trình rút quân rõ rệt, kể từ giữa năm 2011 đến cuối năm 2013. Và đây có lẽ là vấn đề khó hiểu nhất.
Trong lịch sử nhân loại, đã có cả trăm ngàn cuộc chiến lớn nhỏ, nhưng có lẽ chưa bao giờ lại có một cuộc chiến có lịch trình được đơn phương ấn định trước, bất kể điều kiện thắng thua trên chiến trường! Một “thay đổi mà chúng ta có thể tin được”" (Change we can believe in)
Trước hết là vấn đề mục đích của cuộc chiến.
Tại sao tiếp tục cuộc chiến cho đến tháng Bảy năm 2011 là bắt đầu “tháo chạy” cho đến năm 2013 là thời hạn chót, bất kể thắng bại" Nếu kết quả thắng bại không quan trọng thì đánh nhau tiếp tục từ giờ đến đó để làm gì" Hy sinh tính mạng của hàng trăm hàng ngàn thanh niên và tốn cả trăm tỷ mỗi năm trong mấy năm tới để làm gì" Ngược lại, nếu thắng bại là chuyện quan trọng, thì sao lại có thể ấn định đúng ngày đúng tháng ra đi" Sao biết được lúc đó đang thua hay đang thắng" Đã thua hay đã thắng"


Mục đích thực sự của cuộc chiến là gì" Vài ngày trước khi công bố quyết định, TT Obama đã “bật mí” phần nào kế hoạch của ông để chuẩn bị dư luận. Ông tuyên bố ông quyết tâm “hoàn tất công tác” (finish the job). Ngay khi đó, điều làm nhiều người nghi ngờ ngay là ông đã tránh định nghĩa rõ ràng thế nào là “hoàn tất công tác”, công tác gì" Giết Osama Bin Laden" Tiêu diệt Al Qaeda" Tiêu diệt Taliban" Tiêu diệt khủng bố toàn cầu" Afghanistan-hóa cuộc chiến" Xây dựng dân chủ tại Afghanistan"
Không cần biết “công tác” của TT Obama là gì, làm sao có thể khẳng định công tác đó sẽ hoàn tất đúng ngày đúng tháng được" Chiến tranh chứ có phải mang bầu đâu mà biết được rõ ràng đúng chín tháng mười ngày sẽ “hoàn tất”"
Nếu lúc đó Bin Laden chưa bị giết, Al Qaeda chưa bị tiêu diệt, khủng bố vẫn hoành hành ngay trên đất Afghanistan thì sao" Nếu Al Qaeda nằm im chờ tới sau khi quân Mỹ rút rồi mới bắt đầu tái xuất giang hồ, đánh chính quyền Karzai thì sao" Mỹ vẫn cứ rút" Rồi Al Qaeda và đồng minh Taliban chiếm Afghanistan, biến xứ này trở thành hậu cứ của khủng bố toàn cầu trở lại thì sao" Mỹ ngồi chờ một 9/11 thứ hai" Hay là lại mang quân trở vào Afghanistan lại"
Trước những câu hỏi hiển nhiên trên, quyết định đôn quân lại còn khó hiểu hơn nữa.
Phe Cộng Hòa hoan nghênh quyết định này mà không giải thích được tại sao đôn quân lại là quyết định khôn ngoan đáng ủng hộ.
Ba chục ngàn quân đó ít hơn số tối thiểu mà vị tư lệnh chiến trường cần, vậy thì gửi vào chiến trường làm gì" Để họ bị thương và chết với mục đích gì" Hay nói cho đúng hơn, có thể đạt được mục đích gì với sự gia tăng đó" Gia tăng để ổn định chiến trường" Hay để chiến thắng" Hay chỉ để giúp huấn luyện quân lực Afghanistan" Hay để chứng minh tính “cần thiết” của cuộc chiến tại đây" TT Obama hy vọng đạt được gì với số quân ít oi đó trong thời gian ngắn ngủi nhất định đó"
Và nếu đã nhất định rút vào ngày tháng nhất định bất kể được thua, thì gửi quân vào thêm làm gì" Để bảo vệ một cuộc tháo chạy, giống như báo “phe ta” New York Times nhận định, một cách “quản lý thất bại” (managing a failure)"
Cả trăm câu hỏi mà bất cứ một thường dân nào cũng có thể hỏi được, chứ không cần phải là cựu tướng lãnh, chuyên gia phân tách chiến trường cho CNN hay Fox News.
Trên căn bản, quyết định của TT Obama hiển nhiên là quyết định trong thế bí, tiến thoái lưỡng nan, muốn thỏa mãn tất cả mọi người theo kiểu mỗi người đều có phần bánh, nhưng lại là phần nhỏ xíu, chẳng ai đủ no, nên chẳng ai vui.
TT Obama nhiều lần xác định cần phải có một sách lược rút ra (exit strategy) chứ không thể ký một thứ chi phiếu trắng (blank check) không giới hạn về tốn phí cũng như thời gian. Đó là một quyết định đúng đắn đáng hoan nghênh. Nhưng theo nhiều quan sát viên, điều TT Obama cần làm là tăng quân, rồi ấn định một số chỉ tiêu quân Mỹ phải đạt được trên phương diện quân sự, như chính quyền của TT Afghanistan Karzai phải đạt được trên mặt chính trị. Nếu đạt được thì Mỹ có quyền ca khúc khải hoàn và rút về “trong danh dự” như Kissinger đã mong muốn cho tình trạng Việt Nam ngày xưa. Nếu không đạt được, thì Mỹ sẽ chấp nhận đã cố gắng hết sức mình nhưng không đạt được mục tiêu, và rút lui vì cuộc chiến sẽ đi xa hơn cái giá mà chính quyền Obama có thể chấp nhận được. Mục tiêu quân sự và chính trị cần phải được đặt ra rõ rệt để làm mốc cụ thể cho một sách lược đánh cũng như cho một sách lược rút.
Nhưng tuyệt đối không thể ấn định lịch trình rút với ngày tháng nhất định mà không có mục tiêu sách lược nào cả. Đó là một cuộc tháo chạy vô điều kiện chứ không phải là sách lược rút quân.
Có lập luận cho rằng TT Obama quyết định tăng quân rồi định ngay ngày rút vì ông tin tưởng số tăng viện sẽ đủ sức giúp Mỹ đạt được một số mục tiêu quân sự và chính trị giới hạn nào đó, hạ cấp Al Qaeda và Taliban xuống tư thế một nhóm du kích địa phương mà quân đội Afghanistan có thể kềm chế được, để rồi có thể dựa trên những thành quả đó, quân Mỹ kịp thời rút về trước mùa bầu cử năm 2012.
Nhìn vào lịch trình rút quân, người ta không khỏi đặt vấn đề về mặt trái của tính dân chủ của Mỹ: các cuộc bầu cử rõ ràng đã hoàn toàn chi phối mọi chính sách kinh tế cũng như xã hội, y tế hay quân sự. Sách lược kinh bang tế thế nếu không phải là công cụ cho chiến thuật bầu cử nhất thời thì cũng bị lệ thuộc vào lịch trình bầu cử.
Nếu lịch trình rút quân thực sự bị chi phối bởi cuộc bầu tổng thống năm 2012, thì chẳng những thật tai hại cho quyền lợi lâu dài của nước Mỹ, mà quả thực TT Obama đã đánh một canh bạc khổng lồ có thể quyết định tương lai chính trị của ông.
Cuộc rút quân sẽ bắt đầu quá gần mùa tranh cử. Nếu ông thành công trong chiến lược mới như dự tính thì nhất định Afghanistan sẽ trở thành yếu tố quyết định trong cuộc tranh cử, có thể khoả lấp những thất bại khác nếu có của ông. Ngược lại, nếu chiến lược ông thất bại, hay gặp khó khăn, ông sẽ không còn kịp thời giờ trở tay hay giải thích.
Xác suất thất bại có phần lớn hơn xác suất thành công khi ta nghĩ lại Mỹ đã không giải quyết được cuộc chiến trong tám năm trời, bây giờ chỉ với thêm ba chục ngàn quân mà lại có thể giải quyết cuộc chiến trong một năm rưỡi sao" Đúng ra là có một năm thôi, vì cũng phải mất ít nhất nửa năm nữa số quân tăng viện mới đến Afghanistan được. (6-12-09)
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi Thứ Ba.

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.