Hôm nay,  

Khi Cuba Có Dầu Hỏa

06/11/200800:00:00(Xem: 12386)

Khi Cuba Có Dầu Hỏa

Tuấn Minh (VNN)
Trong số bốn nước còn lại trên thế giới vẫn theo chế độ cộng sản (Cuba, Bắc Hàn, Trung Cộng và Việt Cộng) thì quốc gia ở Nam Mỹ là nước bị Hoa Kỳ chơi ép nhất, mà lý do để biện minh nhiều phần thiếu tính thuyết phục. Thật vậy, Hoa Kỳ đã mở cửa và hợp tác mạnh mẽ từ lâu với Trung Cộng chỉ vì quyền lợi kinh tế cấp thời, ham đồ với giá rẻ mà nhiều khi không chịu nghĩ đến cái hại về lâu dài đối với đối thủ đáng ngại và có thể dễ dàng quay sang đối đầu. Sau đó, Hoa Kỳ cũng đã hợp tác với CS Việt Nam, kẻ thù cũ trong cuộc chiến hơn ba thập niên về trước, mà quyền lợi thu về cho Hoa Kỳ thật ra cũng chẳng đáng là bao, ngoại trừ yếu tố được nhiều người nói đến là mong giữ được một đồng minh mới để kềm chân Trung Cộng trong tương lai khi cần thiết. Riêng với Bắc Hàn thì Hoa Kỳ không có quyền lợi cụ thể nào hết, cũng như không có sự lo sợ nào cho sự an nguy của mình, ngoại trừ nhiệm vụ hiện hữu để bảo đảm cho sự an ninh của hai đồng minh là Nhật Bản và Nam Hàn. Ấy vậy mà cuối cùng dường như Hoa Kỳ cũng sẵn sàng nới lỏng sự kềm kẹp với quốc gia này, chẳng hạn như sắp loại bỏ tên ra khỏi danh sách các nước khủng bố để mở màn cho giai đoạn bình thường hoá quan hệ ngoại giao.
Nhưng với Cuba thì khác. Hoa Kỳ, dưới thời chính quyền Bush, vẫn cương quyết giữ vững lập trường "chống Cộng đến cùng", quyết giữ vững chính sách cô lập ngoại giao và cấm vận kinh tế, khởi đi từ năm 1962 sau vụ tấn công ở Vịnh Con Heo nhằm lật đổ Fidel Castro bị thất bại, cho dù đã có nhiều vị dân cử phe Cộng Hoà đã không còn ủng hộ chính sách này nữa. Và thật ra thì ảnh hưởng của khối di dân gốc Cuba ở Miami cũng không còn mạnh để tác động lên chính sách toàn quốc của Hoa Kỳ. Vì giống như các khối di dân khác, nếu như thế hệ cao niên vẫn còn sắt son với lý tưởng chống chế độ cộng sản ở Cuba và nuôi mộng một ngày nào đó lật đổ được thể chế độc tài Castro thì thế hệ con em của họ không còn quan tâm đến vấn đề đó nữa. Ấy là chưa kể dân gốc Cuba không còn chiếm một đa số đáng kể tại tiểu bang Florida, và những di dân gốc Nam Mỹ khác không hẳn chia sẻ cùng quan niệm chống lại Cuba như họ.
Từ vài năm qua, đã có nhiều tiếng nói kêu gọi Hoa Kỳ nên thay đổi chính sách cứng rắn đối với Cuba để đẩy mạnh các phong trào hay dịch vụ giao thương hoặc du lịch với hai nước, được coi như là một phương tiện hữu hiệu và êm dịu nhất để giúp thay đổi bộ mặt của một chế độ độc tài, tương tự như quan niệm của các chính quyền Mỹ đối với Trung Cộng và Việt Cộng. Nhiều vị dân biểu và nghị sĩ Cộng Hoà đã đệ nạp những dự luật nhằm cho phép các hãng dầu của Mỹ được phép làm ăn với Cuba, ít ra là có thể khai thác ngoài khơi đảo quốc này để mong tìm được những nguồn dầu hoả, nếu có, sẽ dễ dàng phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ to lớn của Hoa Kỳ. Trong cuộc vận động tranh cử hiện nay, không thấy hai vị ứng viên có lên tiếng về chuyện này, nhưng nhiều người nhận định rằng một vị tổng thống phe Dân Chủ như ông Obama có lẽ sẽ dễ dàng lắng nghe những tiếng nói để có thể thay đổi chính sách. Nhất là trong tình hình mới đây khi hãng dầu quốc doanh Cubapetroleo, viết tắt là Cupet, vừa đưa ra một tuyên bố khá động trời là khối lượng dầu hoả ngoài khơi Cuba được ước tính lên đến 20 tỷ thùng. (Để dễ so sánh, Hoa Kỳ có khối lượng dầu hoả vào khoảng 29 tỷ thùng).
Từ nhiều thập niên qua, người dân Cuba nhìn về hướng bắc để chỉ mơ tưởng về một làn sóng có thể đẩy đưa những con thuyền mong manh đưa dân tị nạn đến được bến bờ Florida của đại lân bang ở phía bắc là Hoa Kỳ để mong hưởng được một đời sống tự do và tốt đẹp hơn. Nhưng gần đây, họ có thể bắt đầu mơ tưởng về một niềm tin mới, có thể giúp đem lại trù phú cho đất nước mình, khi những nhà địa chất học đưa ra những bản thẩm định mới cho rằng có khoảng từ 5 đến 10 tỷ thùng dầu đang nằm dưới lòng biển ngoài bờ biển Cuba về phía tây bắc. Nếu điều này là hiện thực, thì biết đâu nó sẽ giúp cho Cuba, quốc gia duy nhất trên bán cầu này còn theo thể chế cộng sản, thoát khỏi vòng lệ thuộc vào các nước có nhiều dầu hoả như Liên Sô (lúc xưa) hoặc Venezuela (ngày nay). Và từ đó có thể nhanh chóng vượt ra khỏi vòng nghèo khó.
Thật ra thì Cuba đã có dầu hoả từ lâu. Nhưng Cuba chỉ sản xuất được mỗi ngày cỡ 60,000 thùng, nhưng nhu cầu tiêu thụ mỗi ngày lại lên đến 150,000 thùng. Vì thế cho nên Cuba lúc nào cũng cần phải nhập cảng dầu thô, hay đúng hơn là cần sự tiếp tế vì nền kinh tế nghèo nàn của Cuba không đủ sức để trang trải chi phí mua hàng nhập cảng. Lúc xưa vai trò của đồng minh hảo tâm là Liên Sô, nhưng sau này là Venezuela, mỗi ngày cung ứng với giá rẻ cho Cuba khoảng 100,000 thùng.
Vào năm 2004, Cơ quan giám định địa chất của chính phủ Mỹ (US Geological Survey, USGS) đưa ra con số thẩm định đầu tiên từ 5 đến 10 tỷ thùng, ước lượng nằm ở vùng tây bắc ngoài khơi, thường được gọi là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế (Exclusive Economic Zone, EEZ). Nhưng trong một cuộc họp báo vào tuần trước, hãng dầu Cupet đã đưa ra con số thẩm định mới to lớn hơn nhiều là 20 tỷ. Ông Rafael Tenreyro, giám đốc ban thăm dò, còn nói với các phóng viên rằng "đây không phải là chuyện đùa". Ông cho rằng bản thẩm định mới được dựa trên những nghiên cứu mới nhất để so sánh về những điểm tương đồng giữa các mỏ dầu tại Cuba với các mỏ dầu khác trong vùng Vịnh Mễ Tây Cơ. Ông nói: "Chúng tôi có nhiều dữ liệu hơn USGS," nhưng không đưa thêm những bằng chứng cụ thể nào khác.
Nhiều người đã tỏ ra hoài nghi về con số quá lạc quan này, và cho rằng đó có thể là một mánh khoé để kích động sự tò mò của các hãng dầu hoả muốn đầu tư trở lại, giữa lúc mà giá dầu đang tụt dốc gần đây có thể khiến nhiều người bớt hăng hái. Cuba càng ngày càng mong muốn có nhiều hãng dầu quốc tế chịu nhảy vào để đầu tư trong các công trình thăm dò và khai thác rất tốn kém trong bước đầu. Nhất là trước áp lực hiện nay của giá dầu thô giảm, sẽ khiến cho đồng minh Venezuela bị mất bớt lợi nhuận và sẽ khó khăn hơn để giúp đỡ hết mình cho Cuba. Đó là nhận định của ông Jorge Pinon, một chuyên gia nghiên cứu về dầu hoả tại Cuba hiện đang làm việc tại Đại học Miami, khi cho rằng phía Cuba đang bị áp lực để tìm cách đẩy mạnh chương trình phát triển tài nguyên dầu hoả trong nước.


Nhưng cũng có nhiều chuyên gia độc lập khác đưa ra những nhận định thuận lợi khác. Ông Chris Schenk, trưởng toán điều hợp của USGS tại vùng biển Caribbean đã làm cuộc thăm dò vào năm 2004 và đưa đến con số từ 5 đến 10 tỷ thùng, cũng công nhận rằng các chuyên gia địa chất học của Cuba "rất xuất sắc". Tuy vậy, ông cũng nói thêm rằng "chúng ta mong muốn nhìn thấy thêm nhiều dữ kiện nữa" và lấy làm tiếc rằng tình hình cấm vận hiện nay, cộng thêm những chính sách cô lập thông tin của Cuba đã khiến cho nhiều chuyên gia không thể hội thoại nhiều hơn để tìm hiểu. Một chuyên gia khác là ông Jonathan Benjamin-Alvarado, một phân tích gia làm việc tại trường Đại học Nebraska, đã nhận định: "Nếu đúng là 20 tỷ thùng, thì quả là một sự chấn động có khả năng thay đổi cục diện." Tuy không hoài nghi về khả năng của các nhà địa chất học ở Cuba, nhưng ông Benjamin-Alvarado cho rằng con số 20 tỷ là quá đáng: "Tôi tin tưởng họ là những chuyên gia nghiên cứu về dầu hoả, và những con số đọc được từ các cuộc đo lường về địa chất có thể đúng, nhưng cho đến khi nào chúng ta thấy được những con số khác, từ những chuyên gia độc lập khác, thì những con số mới này vẫn còn bị hoài nghi."
Tuy vậy cũng đã có vài hãng dầu quốc tế bắt đầu nhảy vào để thử thăm dò. Đầu tiên là công ty năng lượng Repsol-YPF của Tây Ban Nha đã ký một hợp đồng liên doanh với Cupet, và sẽ bắt đầu thăm dò khoan dầu tại vùng EEZ vào đầu năm 2009. Tiếp đến là các công ty năng lượng khác như StatoilHidro của Na Uy và Oil & Natural Gas Corp. (Công ty Dầu và Khí) của Ấn Độ. Công ty năng lượng quốc doanh của Venezuela là Petroleos de Venezuela lại không được xem là sẽ đóng vai trò quan trọng vì không có khả năng và kinh nghiệm trong lãnh vực khoan dầu ngoài biển sâu. Các hãng dầu của Trung Cộng cũng có thể ngắm nghé đến trong tương lai, nhưng cho đến nay chỉ chú trọng vào việc khai thác dầu hoả trên đất liền tại Cuba. Chính phủ Cuba hiện đang có những thảo luận quan trọng với hãng dầu Petrobras của Ba Tây, là công ty vừa mới khám phá kho dầu lớn ngoài bờ biển gần thành phố Rio de Janeiro. Nếu những cuộc điều đình này đi đến thoả thuận, thì Petrobras sẽ là một bạn hàng hợp tác quan trọng đối với Cuba trong ngành khai thác dầu ngoài khơi.    
Tuy vậy, tất cả những hợp đồng này cũng chỉ mới chiếm 1/4 diện tích to lớn khoảng 43,000 dặm vuông của vùng EEZ mà Cuba muốn khai thác. Hầu hết các chuyên gia đều nhận định rằng lý do chính khiến các công ty năng lượng ngần ngại nhảy vào thị trường Cuba vì những khó khăn cơ bản và hạ tầng cơ sở một khi muốn làm ăn tại đây. Bởi vì nếu muốn nhập cuộc, các công ty này phải đầu tư rất nhiều từ vốn liếng, cơ sở, dụng cụ, và kiến thức cùng với nhân viên chuyên môn. Hơn nữa, địa thế của Cuba mỗi năm dễ gánh chịu nhiều trận cuồng phong thổi vào với sức tàn phá kinh khủng cũng khiến cho việc khai thác không dễ dàng và êm thắm. Đó cũng là lý do khiến cho công ty năng lượng Sherritt của Gia Nã Đại mới đây cũng đã rút ra khỏi giao kèo khai thác tại Cuba.
Theo chuyên gia Benjamin-Alvarado thì quốc gia duy nhất có thể cung ứng vốn liếng và khả năng chuyên môn hữu hiệu nhất để khai thác dầu hoả tại bờ biển Cuba không ai khác hơn chính là Hoa Kỳ. Nếu như Cuba có thể chứng minh một cách khá xác tín về kho tài nguyên lên đến 20 tỷ thùng để khai thác, thì việc thu hút các quốc gia đầu tư khác như Ba Tây cũng không phải là điều khó. Câu hỏi được đặt ra là trong trường hợp đó, liệu Hoa Kỳ có sẵn sàng tháo gỡ hàng rào cấm vận để nhập cuộc hay không" Ông Kirby Jones, chủ tịch của Hội Mậu Dịch Hoa Kỳ và Cuba, một trong những người chống đối chính sách cấm vận, cho rằng các chuyên viên của Cupet đã chứng tỏ khả năng chuyên môn đáng tin cậy của mình trong quá khứ, và do đó ông có thể tin rằng những con số thẩm định mới này không có gì là quá đáng. Trong trường hợp đó, câu hỏi đặt ra cho Hoa Kỳ, theo ông Jones, sẽ là: "Hoa Kỳ sẽ trả giá như thế nào nếu như tiếp tục chính sách cấm vận" Nó sẽ làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của Cuba và khiến cho Hoa Kỳ sẽ không còn ảnh hưởng đáng kể nữa."
Điều này có thể đúng, nhưng trong tương lai gần, theo nhận định của nhà báo Tim Padgett, trong một bài phân tích đăng trên tạp chí Time đề ngày 23-10-08, thì những con số khám phá mới tại Cuba có thể khiến cho áp lực muốn khai thác dầu hoả ngoài khơi Hoa Kỳ sẽ càng tăng cao. Phó tổng thống Dick Cheney và nhiều viên chức cao cấp khác trong chính quyền Bush thường biện minh cho những tài nguyên mới khám phá tại Cuba là lý do chính đáng để mở rộng việc khai thác dầu hoả tại bờ biển của Mỹ. Những cuộc thăm dò dư luận gần đây tại những tiểu bang dọc bờ biển như Florida cho thấy là số đông dân chúng sẵn sàng ủng hộ đường hướng này, tuy rằng những nhà bảo vệ môi sinh vẫn tiếp tục chống đối. Cùng lúc đó, những người ủng hộ biện pháp cấm vận thì tiếp tục vận động tại Quốc Hội để thông qua những dự luật, nếu thành hình, có thể trừng phạt bằng cách từ chối chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ cho các viên chức điều hành các công ty năng lượng làm ăn tại Cuba. Lập luận của phe này là: nếu như chính quyền Cuba càng có thêm tiền thu về từ dầu hoả, thì chính quyền đó sẽ càng ít bị áp lực hơn để đẩy mạnh các chính sách cải tổ theo mô hình tự do dân chủ.
Nhận xét này có lẽ đúng. Tuy vậy, mối tương quan giữa hai lân bang Hoa Kỳ và Cuba xem chừng như vẫn còn giậm chân như trong thời kỳ xung đột của Chiến Tranh Lạnh. Và vì thế cho nên, cho dù có khám phá hay không con số 20 tỷ thùng dầu ngoài khơi Cuba, thì ở cả hai thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Havana, sự tương quan này cũng chưa chắc thay đổi dễ dàng hoặc nhanh chóng.  
Tuấn Minh

Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
Thông minh! Sáng tạo! Máu lửa! Nghệ thuật! Vui nhộn! Thẩm mỹ... Rất nhiều tính từ để có thể mô tả về các phim Lego Movie do trí tuệ nhân tạo (AI) làm ra đang phủ đầy các mạng xã hội TikTok, X, Instagram, Bluesky hơn tháng qua. Chủ nhân của những video này là nhóm Explosive Media, chưa đến 10 thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, từ Iran. Mỗi video của Explosive Media đón nhận hàng triệu lượt xem cùng vô số bình luận. Các danh khoản mạng xã hội của chính phủ Iran chia sẻ lại. Nhóm biểu tình "No Kings" ở Hoa Kỳ sử dụng để phản đối chiến tranh. Thông điệp chính trị truyền tải trong các video này mang tính trực diện và đậm chất hoạt hình – đúng tính chất là những nhân vật Lego vuông vức nhưng sống động và đầy cá tính.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.