Hôm nay,  

Khi Cuba Có Dầu Hỏa

06/11/200800:00:00(Xem: 12387)

Khi Cuba Có Dầu Hỏa

Tuấn Minh (VNN)
Trong số bốn nước còn lại trên thế giới vẫn theo chế độ cộng sản (Cuba, Bắc Hàn, Trung Cộng và Việt Cộng) thì quốc gia ở Nam Mỹ là nước bị Hoa Kỳ chơi ép nhất, mà lý do để biện minh nhiều phần thiếu tính thuyết phục. Thật vậy, Hoa Kỳ đã mở cửa và hợp tác mạnh mẽ từ lâu với Trung Cộng chỉ vì quyền lợi kinh tế cấp thời, ham đồ với giá rẻ mà nhiều khi không chịu nghĩ đến cái hại về lâu dài đối với đối thủ đáng ngại và có thể dễ dàng quay sang đối đầu. Sau đó, Hoa Kỳ cũng đã hợp tác với CS Việt Nam, kẻ thù cũ trong cuộc chiến hơn ba thập niên về trước, mà quyền lợi thu về cho Hoa Kỳ thật ra cũng chẳng đáng là bao, ngoại trừ yếu tố được nhiều người nói đến là mong giữ được một đồng minh mới để kềm chân Trung Cộng trong tương lai khi cần thiết. Riêng với Bắc Hàn thì Hoa Kỳ không có quyền lợi cụ thể nào hết, cũng như không có sự lo sợ nào cho sự an nguy của mình, ngoại trừ nhiệm vụ hiện hữu để bảo đảm cho sự an ninh của hai đồng minh là Nhật Bản và Nam Hàn. Ấy vậy mà cuối cùng dường như Hoa Kỳ cũng sẵn sàng nới lỏng sự kềm kẹp với quốc gia này, chẳng hạn như sắp loại bỏ tên ra khỏi danh sách các nước khủng bố để mở màn cho giai đoạn bình thường hoá quan hệ ngoại giao.
Nhưng với Cuba thì khác. Hoa Kỳ, dưới thời chính quyền Bush, vẫn cương quyết giữ vững lập trường "chống Cộng đến cùng", quyết giữ vững chính sách cô lập ngoại giao và cấm vận kinh tế, khởi đi từ năm 1962 sau vụ tấn công ở Vịnh Con Heo nhằm lật đổ Fidel Castro bị thất bại, cho dù đã có nhiều vị dân cử phe Cộng Hoà đã không còn ủng hộ chính sách này nữa. Và thật ra thì ảnh hưởng của khối di dân gốc Cuba ở Miami cũng không còn mạnh để tác động lên chính sách toàn quốc của Hoa Kỳ. Vì giống như các khối di dân khác, nếu như thế hệ cao niên vẫn còn sắt son với lý tưởng chống chế độ cộng sản ở Cuba và nuôi mộng một ngày nào đó lật đổ được thể chế độc tài Castro thì thế hệ con em của họ không còn quan tâm đến vấn đề đó nữa. Ấy là chưa kể dân gốc Cuba không còn chiếm một đa số đáng kể tại tiểu bang Florida, và những di dân gốc Nam Mỹ khác không hẳn chia sẻ cùng quan niệm chống lại Cuba như họ.
Từ vài năm qua, đã có nhiều tiếng nói kêu gọi Hoa Kỳ nên thay đổi chính sách cứng rắn đối với Cuba để đẩy mạnh các phong trào hay dịch vụ giao thương hoặc du lịch với hai nước, được coi như là một phương tiện hữu hiệu và êm dịu nhất để giúp thay đổi bộ mặt của một chế độ độc tài, tương tự như quan niệm của các chính quyền Mỹ đối với Trung Cộng và Việt Cộng. Nhiều vị dân biểu và nghị sĩ Cộng Hoà đã đệ nạp những dự luật nhằm cho phép các hãng dầu của Mỹ được phép làm ăn với Cuba, ít ra là có thể khai thác ngoài khơi đảo quốc này để mong tìm được những nguồn dầu hoả, nếu có, sẽ dễ dàng phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ to lớn của Hoa Kỳ. Trong cuộc vận động tranh cử hiện nay, không thấy hai vị ứng viên có lên tiếng về chuyện này, nhưng nhiều người nhận định rằng một vị tổng thống phe Dân Chủ như ông Obama có lẽ sẽ dễ dàng lắng nghe những tiếng nói để có thể thay đổi chính sách. Nhất là trong tình hình mới đây khi hãng dầu quốc doanh Cubapetroleo, viết tắt là Cupet, vừa đưa ra một tuyên bố khá động trời là khối lượng dầu hoả ngoài khơi Cuba được ước tính lên đến 20 tỷ thùng. (Để dễ so sánh, Hoa Kỳ có khối lượng dầu hoả vào khoảng 29 tỷ thùng).
Từ nhiều thập niên qua, người dân Cuba nhìn về hướng bắc để chỉ mơ tưởng về một làn sóng có thể đẩy đưa những con thuyền mong manh đưa dân tị nạn đến được bến bờ Florida của đại lân bang ở phía bắc là Hoa Kỳ để mong hưởng được một đời sống tự do và tốt đẹp hơn. Nhưng gần đây, họ có thể bắt đầu mơ tưởng về một niềm tin mới, có thể giúp đem lại trù phú cho đất nước mình, khi những nhà địa chất học đưa ra những bản thẩm định mới cho rằng có khoảng từ 5 đến 10 tỷ thùng dầu đang nằm dưới lòng biển ngoài bờ biển Cuba về phía tây bắc. Nếu điều này là hiện thực, thì biết đâu nó sẽ giúp cho Cuba, quốc gia duy nhất trên bán cầu này còn theo thể chế cộng sản, thoát khỏi vòng lệ thuộc vào các nước có nhiều dầu hoả như Liên Sô (lúc xưa) hoặc Venezuela (ngày nay). Và từ đó có thể nhanh chóng vượt ra khỏi vòng nghèo khó.
Thật ra thì Cuba đã có dầu hoả từ lâu. Nhưng Cuba chỉ sản xuất được mỗi ngày cỡ 60,000 thùng, nhưng nhu cầu tiêu thụ mỗi ngày lại lên đến 150,000 thùng. Vì thế cho nên Cuba lúc nào cũng cần phải nhập cảng dầu thô, hay đúng hơn là cần sự tiếp tế vì nền kinh tế nghèo nàn của Cuba không đủ sức để trang trải chi phí mua hàng nhập cảng. Lúc xưa vai trò của đồng minh hảo tâm là Liên Sô, nhưng sau này là Venezuela, mỗi ngày cung ứng với giá rẻ cho Cuba khoảng 100,000 thùng.
Vào năm 2004, Cơ quan giám định địa chất của chính phủ Mỹ (US Geological Survey, USGS) đưa ra con số thẩm định đầu tiên từ 5 đến 10 tỷ thùng, ước lượng nằm ở vùng tây bắc ngoài khơi, thường được gọi là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế (Exclusive Economic Zone, EEZ). Nhưng trong một cuộc họp báo vào tuần trước, hãng dầu Cupet đã đưa ra con số thẩm định mới to lớn hơn nhiều là 20 tỷ. Ông Rafael Tenreyro, giám đốc ban thăm dò, còn nói với các phóng viên rằng "đây không phải là chuyện đùa". Ông cho rằng bản thẩm định mới được dựa trên những nghiên cứu mới nhất để so sánh về những điểm tương đồng giữa các mỏ dầu tại Cuba với các mỏ dầu khác trong vùng Vịnh Mễ Tây Cơ. Ông nói: "Chúng tôi có nhiều dữ liệu hơn USGS," nhưng không đưa thêm những bằng chứng cụ thể nào khác.
Nhiều người đã tỏ ra hoài nghi về con số quá lạc quan này, và cho rằng đó có thể là một mánh khoé để kích động sự tò mò của các hãng dầu hoả muốn đầu tư trở lại, giữa lúc mà giá dầu đang tụt dốc gần đây có thể khiến nhiều người bớt hăng hái. Cuba càng ngày càng mong muốn có nhiều hãng dầu quốc tế chịu nhảy vào để đầu tư trong các công trình thăm dò và khai thác rất tốn kém trong bước đầu. Nhất là trước áp lực hiện nay của giá dầu thô giảm, sẽ khiến cho đồng minh Venezuela bị mất bớt lợi nhuận và sẽ khó khăn hơn để giúp đỡ hết mình cho Cuba. Đó là nhận định của ông Jorge Pinon, một chuyên gia nghiên cứu về dầu hoả tại Cuba hiện đang làm việc tại Đại học Miami, khi cho rằng phía Cuba đang bị áp lực để tìm cách đẩy mạnh chương trình phát triển tài nguyên dầu hoả trong nước.


Nhưng cũng có nhiều chuyên gia độc lập khác đưa ra những nhận định thuận lợi khác. Ông Chris Schenk, trưởng toán điều hợp của USGS tại vùng biển Caribbean đã làm cuộc thăm dò vào năm 2004 và đưa đến con số từ 5 đến 10 tỷ thùng, cũng công nhận rằng các chuyên gia địa chất học của Cuba "rất xuất sắc". Tuy vậy, ông cũng nói thêm rằng "chúng ta mong muốn nhìn thấy thêm nhiều dữ kiện nữa" và lấy làm tiếc rằng tình hình cấm vận hiện nay, cộng thêm những chính sách cô lập thông tin của Cuba đã khiến cho nhiều chuyên gia không thể hội thoại nhiều hơn để tìm hiểu. Một chuyên gia khác là ông Jonathan Benjamin-Alvarado, một phân tích gia làm việc tại trường Đại học Nebraska, đã nhận định: "Nếu đúng là 20 tỷ thùng, thì quả là một sự chấn động có khả năng thay đổi cục diện." Tuy không hoài nghi về khả năng của các nhà địa chất học ở Cuba, nhưng ông Benjamin-Alvarado cho rằng con số 20 tỷ là quá đáng: "Tôi tin tưởng họ là những chuyên gia nghiên cứu về dầu hoả, và những con số đọc được từ các cuộc đo lường về địa chất có thể đúng, nhưng cho đến khi nào chúng ta thấy được những con số khác, từ những chuyên gia độc lập khác, thì những con số mới này vẫn còn bị hoài nghi."
Tuy vậy cũng đã có vài hãng dầu quốc tế bắt đầu nhảy vào để thử thăm dò. Đầu tiên là công ty năng lượng Repsol-YPF của Tây Ban Nha đã ký một hợp đồng liên doanh với Cupet, và sẽ bắt đầu thăm dò khoan dầu tại vùng EEZ vào đầu năm 2009. Tiếp đến là các công ty năng lượng khác như StatoilHidro của Na Uy và Oil & Natural Gas Corp. (Công ty Dầu và Khí) của Ấn Độ. Công ty năng lượng quốc doanh của Venezuela là Petroleos de Venezuela lại không được xem là sẽ đóng vai trò quan trọng vì không có khả năng và kinh nghiệm trong lãnh vực khoan dầu ngoài biển sâu. Các hãng dầu của Trung Cộng cũng có thể ngắm nghé đến trong tương lai, nhưng cho đến nay chỉ chú trọng vào việc khai thác dầu hoả trên đất liền tại Cuba. Chính phủ Cuba hiện đang có những thảo luận quan trọng với hãng dầu Petrobras của Ba Tây, là công ty vừa mới khám phá kho dầu lớn ngoài bờ biển gần thành phố Rio de Janeiro. Nếu những cuộc điều đình này đi đến thoả thuận, thì Petrobras sẽ là một bạn hàng hợp tác quan trọng đối với Cuba trong ngành khai thác dầu ngoài khơi.    
Tuy vậy, tất cả những hợp đồng này cũng chỉ mới chiếm 1/4 diện tích to lớn khoảng 43,000 dặm vuông của vùng EEZ mà Cuba muốn khai thác. Hầu hết các chuyên gia đều nhận định rằng lý do chính khiến các công ty năng lượng ngần ngại nhảy vào thị trường Cuba vì những khó khăn cơ bản và hạ tầng cơ sở một khi muốn làm ăn tại đây. Bởi vì nếu muốn nhập cuộc, các công ty này phải đầu tư rất nhiều từ vốn liếng, cơ sở, dụng cụ, và kiến thức cùng với nhân viên chuyên môn. Hơn nữa, địa thế của Cuba mỗi năm dễ gánh chịu nhiều trận cuồng phong thổi vào với sức tàn phá kinh khủng cũng khiến cho việc khai thác không dễ dàng và êm thắm. Đó cũng là lý do khiến cho công ty năng lượng Sherritt của Gia Nã Đại mới đây cũng đã rút ra khỏi giao kèo khai thác tại Cuba.
Theo chuyên gia Benjamin-Alvarado thì quốc gia duy nhất có thể cung ứng vốn liếng và khả năng chuyên môn hữu hiệu nhất để khai thác dầu hoả tại bờ biển Cuba không ai khác hơn chính là Hoa Kỳ. Nếu như Cuba có thể chứng minh một cách khá xác tín về kho tài nguyên lên đến 20 tỷ thùng để khai thác, thì việc thu hút các quốc gia đầu tư khác như Ba Tây cũng không phải là điều khó. Câu hỏi được đặt ra là trong trường hợp đó, liệu Hoa Kỳ có sẵn sàng tháo gỡ hàng rào cấm vận để nhập cuộc hay không" Ông Kirby Jones, chủ tịch của Hội Mậu Dịch Hoa Kỳ và Cuba, một trong những người chống đối chính sách cấm vận, cho rằng các chuyên viên của Cupet đã chứng tỏ khả năng chuyên môn đáng tin cậy của mình trong quá khứ, và do đó ông có thể tin rằng những con số thẩm định mới này không có gì là quá đáng. Trong trường hợp đó, câu hỏi đặt ra cho Hoa Kỳ, theo ông Jones, sẽ là: "Hoa Kỳ sẽ trả giá như thế nào nếu như tiếp tục chính sách cấm vận" Nó sẽ làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của Cuba và khiến cho Hoa Kỳ sẽ không còn ảnh hưởng đáng kể nữa."
Điều này có thể đúng, nhưng trong tương lai gần, theo nhận định của nhà báo Tim Padgett, trong một bài phân tích đăng trên tạp chí Time đề ngày 23-10-08, thì những con số khám phá mới tại Cuba có thể khiến cho áp lực muốn khai thác dầu hoả ngoài khơi Hoa Kỳ sẽ càng tăng cao. Phó tổng thống Dick Cheney và nhiều viên chức cao cấp khác trong chính quyền Bush thường biện minh cho những tài nguyên mới khám phá tại Cuba là lý do chính đáng để mở rộng việc khai thác dầu hoả tại bờ biển của Mỹ. Những cuộc thăm dò dư luận gần đây tại những tiểu bang dọc bờ biển như Florida cho thấy là số đông dân chúng sẵn sàng ủng hộ đường hướng này, tuy rằng những nhà bảo vệ môi sinh vẫn tiếp tục chống đối. Cùng lúc đó, những người ủng hộ biện pháp cấm vận thì tiếp tục vận động tại Quốc Hội để thông qua những dự luật, nếu thành hình, có thể trừng phạt bằng cách từ chối chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ cho các viên chức điều hành các công ty năng lượng làm ăn tại Cuba. Lập luận của phe này là: nếu như chính quyền Cuba càng có thêm tiền thu về từ dầu hoả, thì chính quyền đó sẽ càng ít bị áp lực hơn để đẩy mạnh các chính sách cải tổ theo mô hình tự do dân chủ.
Nhận xét này có lẽ đúng. Tuy vậy, mối tương quan giữa hai lân bang Hoa Kỳ và Cuba xem chừng như vẫn còn giậm chân như trong thời kỳ xung đột của Chiến Tranh Lạnh. Và vì thế cho nên, cho dù có khám phá hay không con số 20 tỷ thùng dầu ngoài khơi Cuba, thì ở cả hai thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Havana, sự tương quan này cũng chưa chắc thay đổi dễ dàng hoặc nhanh chóng.  
Tuấn Minh

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.