Hôm nay,  

Sóng Lành Mùa Phật Ðản

02/04/201100:00:00(Xem: 5506)
Sóng Lành Mùa Phật Ðản
Trần Kiêm Ðoàn
Mấy tháng trước ngày cơn đại sóng thần – grand tsunami – vỡ trào quét vào vùng biển Ấn Ðộ vào năm 2004, tàn phá vùng duyên hải của 12 nước ven biển và giết hại 230 nghìn mạng sống, người ta chú ý đến hiện tượng thiên di của các loài động vật. Những đàn kiến cỏ thầm lặng dắt díu nhau lên núi cao. Những loài dế đất, bọ cát tản mạn về đâu mà càng đêm càng vắng tiếng... Những loài vật càng nhẹ, ăn ít, không tham tàn với đồng loại càng vắng bóng nhiều hơn trong những ngày gần kề cơn đại họa.
Hiện tượng loài vật xôn xao, sợ hãi, lánh nạn khỏi vùng đất tai ương nhiều ngày trước khi cơn sóng thần ập đến đất Nhật, làm trên hai vạn người thiệt mạng, cũng đuợc những người dân sống sót tại địa phương quan sát và ghi nhận.
Trong vũ trụ có muôn vàn hiện tượng chằng chịt và phát sóng liên hồi. Không có gì tình cờ mà cũng chẳng có gì tiền định vì đó là dòng chảy tự nhiên, tan hợp triền miên mang tính khách quan và cũng chẳng có cái “ngã” nào chủ xướng phát sinh hay ngự trị cả. Loài vật có căn cơ riêng biệt bắt được sớm hơn hay có độ cảm nhận tinh vi và bén nhạy hơn loài người về những làn sóng của dòng năng lượng vũ trụ đang trôi chảy mà con người không thể – hay chưa – bắt được. Con người phải nhờ những con mắt thần “thiên lý nhãn” của phương tiện khoa học, kỹ thuật mới theo kịp loài chim báo bão, biết trước sự vận hành của thời tiết; nhưng vẫn còn mịt mờ với bao nhiêu biến động thường xuyên trong lòng đất và ngoài vũ trụ. Ai biết trước được bão tố, cuồng lưu, sóng thần, động đất sẽ đến khi nào. Trước thiên nhiên, con người nhỏ bé vừa nông nổi tự hào về những tiến bộ của khoa học trong thế kỷ 20, bỗng chững lại trước trước những biến dịch không lường từ bên ngoài vũ trụ. Con người cầm vũ khí nguyên tử trong tay mà run sợ về sự mong manh của mình trước những cơn bão từ trường, những lối vận hành khốc liệt của các thiên thể, những sự va chạm của thiên hà mà trái đất này còn bé mọn và mau tan hơn cả một hạt bụi trần.
Những người ở riêng trong lĩnh vực tâm linh và khoa học càng ngày càng gần nhau hơn qua dòng tâm cảm và qua kiến thức, suy tư về một khái niệm truyền thống dường như bí ẩn nhưng càng ngày càng hiện ra rõ mặt. Ðó là ngưồn năng lượng tự nhiên và thiêng liêng trong đời sống vũ trụ và trên hành tinh này. Nguồn năng lượng tuy không hình, không dáng, rỗng lặng nhưng lại bao la, bát ngát, bao trùm hết thảy. Nó phi thời gian, phi không gian, phi hình tướng nhưng ở đâu, nơi đâu và thời nào cũng có. Nó thu liễm và phát tiết ra thành những làn sóng vô hình. Khi những cơn sóng có cùng tần số thì bắt gặp nhau, giao thoa với nhau để tạo thành một loại năng lượng mới tạm thời hay dài lâu: Sóng lành kết tụ thành năng lượng lành đầy vui tươi, nhẹ nhàng, an lạc và giải thoát. Sóng dữ kết tụ thành năng lượng dữ đầy cuồng nộ, tàn phá và đổ vỡ tang thương. Mỗi sinh vật là một đối thể cô đơn nhưng thường tại và năng động để thu và phát năng lượng qua những tần số mang sóng lành hay dữ. Con người vừa cô đơn, vừa “độc tôn” vì ai ăn nấy no, ai dò nấy biết. Những thần thánh và những nhà tiên tri là những “trạm” thu và phát sóng có tần số diệu kỳ chứ không phải là nguyên nhân tạo sóng. Gần gũi với các bậc thiện lành chân chính, bất cứ trong lĩnh vực nào, con người cũng sẽ được lợi lạc thu nhiễm được định lực của những lượn sóng lành qua tâm, qua trí.
Ðức Phật xuống đời mang cho đời một nguồn an lạc. Sóng lành mùa Phật Ðản từ mấy nghìn năm trước không biết có khác chi mấy nghìn năm sau. Nhưng con người bỗng thấy gần nhau hơn và nhìn vào đất trời lộng gió sâu hơn qua hương sen trên hồ và tiếng chuông chùa trầm ngân rơi dần vào tịch lặng.
Mùa Phật Ðản đầu tiên – mà thế hệ Chiến Tranh Việt Nam 4x & 5x chúng tôi được thấy – trên quê tôi đang về có sớm quá hay muộn màng thì chỉ có những mùa sen trên Bàu Lộ hay dưới những ao hồ mới biết. Ðó là ngày 8 tháng Tư ta năm 1955, khi tôi 10 tuổi. Những xóm nghèo trên quê tôi đón hòa bình vui như chim ca nắng mới. Chút yên ổn vừa hồi sinh sau ngày hòa bình trở lại với hiệp định “Giơ neo” chia đôi đất nước năm 1954.
Trong ký ức của tuổi thơ, tôi chỉ còn nhớ cái nền xi măng đầy gạch ngói vụn còn sót lại của ngôi chùa Làng bị bom đạn tàn phá. Người ta làm một cái rạp bằng tranh tre và lợp lá cau. Cũng có “lễ đài” dựng lên. Rơm rạ cột thành bó vuông chồng lên nhau làm nền và bao quanh bằng những tấm cót đan bằng tre, nứa màu trắng đục. Lũ trẻ trong làng thích nhất là cái tượng “Phật mới sinh” to bằng hai người thường, vừa được những nhà... nghệ sĩ nông dân trong làng vẽ lên trên tấm cót có ba cây tre bắt chéo làm giá đỡ đằng sau. Tôi được nhìn tận mắt mấy chú trong làng dùng mực xạ màu đen, củ nghệ màu vàng, hột mồng tơi màu tím, bao nhang dầm trong nước màu đỏ và mực xanh bình dân học vụ để vẽ tượng Phật. Lần đầu, tôi được nhìn “ôn Phật” mới sinh, một tay giơ lên trời, một tay chỉ xuống đất, môi đỏ chót, miệng cười toe... vui chi lạ! Ðã 56 năm rồi mà tôi vẫn chưa quên lời bình luận của mấy bác trưởng tộc trong làng về bức tượng Phật Ðản Sinh đầu tiên trên quê tôi, rằng: “Mấy chú quen đi cày, mạnh tay vẽ ông Phật mới sinh mà mặt mũi già khằn như ông cụ già 5, 6 mươi tuổi!” Ấy thế mà không sao cả. Nghe đâu lễ đài làng Liễu Hạ chúng tôi vẫn được chấm hạng nhì trong toàn xã Hương Cần năm đó. “Kính lão ngoan đồng cầu đắc thọ” chăng"!
Sớm mồng 8 tháng Tư ta là ngày Phật Ðản. Mỗi làng là một đơn vị rước Phật về tập trung trên đồng lúa mới gặt. Có một lễ đài chung cho cả 7 làng và 3 phe trong xã. Cả 10 đơn vị sẽ cử hành chung một lễ Phật Ðản chính thức. Thuở đó, chưa có Gia Ðình Phật Tử trong địa phương. Sắp nhỏ có cha mẹ sinh hoạt ở chùa thì được xếp vào hàng “thiếu nhi Phật tử”. Trong mùa Phật Ðản đầu tiên sau ngày hòa bình trở lại năm ấy, dân làng chúng tôi vốn đã chịu nhiều tang thương và đau khổ của chiến tranh suốt mấy mươi năm, nên ai cũng muốn gần gũi một chỗ dựa tinh thần an lành và vô sự. Hình ảnh ông Phật trầm tư muôn thuở và lời kinh từ ái, thuận hòa của đạo Phật đến với dân làng như những giọt nước mát rưới trên vùng khát vọng khô héo đã bao năm qua. Bởi vậy, lễ rước Phật trong ngày lễ Phật Ðản nầy không ai chủ xướng vận động kêu gọi nhưng lại trở thành một ngày lễ hội thân thiết với dân làng, những người sau cuộc chiến đang thiết tha tìm cầu nẻo thiện.
Ðám rước mộc mạc và đơn sơ nhưng ai cũng nếm được chút hương vị đượm tình khó tả như mùi vị đồng chua nước mặn. Nắng mùa Xuân trên con đường Nhứt càng lên cao, đám rước càng dài ra. Tự phát. Những Thiếu nhi Phật tử chúng tôi được xếp hàng hai, mỗi đứa cầm một cây đèn ú, đi trước, ngay sau giá tượng “ôn Phật” có hai lọng che. Tiếp theo có kiệu hương án và hai giá trống chiêng; mỗi giá do hai người gánh. Ðám thanh niên trong làng thay phiên nhau gánh từ chùa Làng cho đến địa điểm hành lễ chung, đi bộ chừng một giờ. Tất cả giàn giá là bộ đồ gánh đám ma của Làng được mượn tạm và trang trí, chế biến lại theo “kiểu Phật” với nhiều chữ vạn, hoa sen và những đường hoa văn cắt xén đơn sơ, thoáng nét vụng về nhưng đầy... hỷ xã. Chúng tôi đã được tập dượt tối hôm qua tới khuya. Ðám bé quê lần đầu được người lớn công nhận, cho tham gia một vai trò lễ nghi trong một đám rước nên đứa nào đứa nấy đều sung sướng và hãnh diện như cậu ấm về làng. Bởi thế, đứa nào cũng mở hết khẩu độ bình sanh của tuổi hoa niên để vừa đi vừa hát vang trời bài “Vui Mừng Gặp...” theo điệu đăng đàn cung: “Vui mừng gặp ngày nay, mồng 8 tháng tư. Ngày khánh tiết, Phật Thích Ca ngài, hiện về Ca Tỳ La Vệ trong đời khổ, vận đức từ bi...”
Tiếng hát vang lừng của tuổi thơ hòa với tiếng chuông trống trầm hùng và lời niệm Phật của tuổi già tạo nên một đám rước rỡ ràng đầy kính ngưỡng là “dấu Phật” in bóng trên đường quê sau ngày hòa bình trở lại. Phật Ðản, không phải chỉ có một ngày mà là một mùa kể từ khi đám sen trong hồ nhú lên và nứt ra từng lá mới cho đến những ngày các chùa lắng lòng trong ba tháng an cư kiết hạ của chư Tăng, Ni và trãi dài cho đến tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân.
Rồi thời gian đi qua, ngày Phật Ðản mồng 8 tháng 4 theo Trung Quốc thay đổi. Bài “Vui mừng gặp ngày nay mồng 8 tháng Tư...” không còn hát nữa khi ngày Phật Ðản đổi sang Rằm tháng Tư theo truyền thống chung của Phật giáo Thế giới chọn ngày trăng tròn tháng Năm làm ngày Phật Ðản (Vesàkha, Vesak). Nói đúng hơn là Mùa Phật Ðản vì thời điểm được chọn theo Phật giáo của mỗi nước không giống nhau, thống nhất trong cùng một ngày như ngày Chúa Giáng Sinh – Noel, Christmas... 25 tháng Chạp. Ngày 15 tháng 12 năm 1999, Ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã chọn một ngày Văn Hóa Phật Giáo gọi là “Ngày Tam Hợp Thiêng Liêng Phật Ðản” (The Thrice–Sacred Day of Vesak). Ðây là một thời điểm biểu tượng bao gồm cả ngày đản sinh, ngày thành đạo và ngày nhập diệt của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong một thập niên qua, Phật giáo thế giới đã có ngày lễ hội Tam Hợp Phật Ðản hàng năm chung cho Phật giáo toàn thế giới, hay Phật giáo của nhiều nước trong từng vùng địa lý thích ứng. Mùa Phật Ðản 2600, tức là 2011 theo lịch Công nguyên, Vesak nhằm vào ngày 17 tháng Năm. Lễ hội Phật Ðản Vesak quốc tế năm nay sẽ được tổ chức tại thủ đô Bangkok của Thái Lan từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 5. Tuy nhiên Phật giáo của mỗi nước như Tích Lan, Miến Ðiện, Trung Hoa, Ðài Loan, Nhật, Lào, Cam Bốt, Mã Lai, Việt Nam, Singapore, Úc... sẽ tổ chứa Vesak riêng. Tại các nước Âu, Mỹ thì Vesak được tổ chức theo từng vùng. Như ở miền Bắc California, lễ hội Vesak 2011 sẽ được tổ chức tại chùa Kim Quang, thành phố Sacramento, trong hai ngày 28 và 29 tháng 5 với sự tham dự của các phái đoàn Phật giáo thuộc nhiều nước đang sinh hoạt trong vùng.

Dẫu cho đứng ở vùng đất hay thời điểm nào thì sự kết hợp giữa đời sống thể lý và tâm linh vẫn là yếu tính của con người. Ðạo Phật không đem Ðạo từ ngoài để gieo vào đời sống tâm linh của con người. Ðạo Phật khơi mở để giúp con người thấy được “Ðạo” đang có sẵn trong chính lòng mình.
Có những tâm hồn như “hóa Phật” khi tiếp cận với những năng lượng an lành trong mùa Phật Ðản. Người Việt chỉ mới đạt tới phần thẩm mỹ của tâm hồn khi thu nhiếp sóng lành mùa Phật Ðản. Nếp cũ tâm linh và văn hóa được gọi là “đạo Thờ Cúng Ông Bà” của người Việt mới chỉ ở mức độ là phần cảm tính. Khái niệm tôn giáo dân gian của người Việt chưa rõ ràng và lan tỏa trong đời sống văn hóa xã hội như tôn giáo dân gian Thần Ðạo (Shinto) của người Nhật Bản. Thần Ðạo không có kinh điển nhưng có tới 800 huyền thoại và chuyện thần thoại để làm căn bản cho thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc họ. Trong khi nếp tâm linh dân gian truyền thống của người Việt chúng ta vẫn còn mờ nhạt như những viễn mơ đầy sương khói.
Khác với hàng Tăng lữ Việt Nam xuất gia là xuất thế, các thiền sư Nhật Bản đồng thời cũng là những đạo sĩ Thần Ðạo nhập thế. Từ thế kỷ thứ 6, đạo Phật đã hòa quyện với Thần Ðạo để hình thành một dân tộc tính vừa mạnh mẽ, vừa nhu hòa giúp con người vươn lên trong tâm bình và trí lạc. Trong thiên tai động đất và sóng thần kinh hoàng kéo theo hệ lụy vỡ lò nguyên tử xảy đến cho dân Nhật trong tháng 3 - 2011 vừa qua đã làm cho toàn thế giới sững sờ và kinh ngạc trước phản ứng đầy hy sinh, chịu đựng quá kham nhẫn và chánh định của một dân tộc anh hùng. Nhật có thể không bằng các nước Âu Mỹ hàng đầu về khoa học kỹ thuật. Nhưng trình độ dân trí, khí phách kiên cường và lòng yêu nước, yêu dân tộc, yêu thiên nhiên và con người của dân tộc Nhật biểu hiện trong cảnh tai ương nạn khổ của đất nước họ vừa qua, rõ ràng là chưa có nước nào sánh kịp trong một hoàn cảnh tương tự. Cộng đồng thế giới ngưỡng mộ phong cách trầm tĩnh tự điều phục, sự dấn thân trong tinh thần kỷ luật cao độ, lòng hy sinh âm thầm không tên tuổi, tình tự dân tộc dâng trào không băng cờ khẩu hiệu của người Nhật.
Một câu hỏi nổi lên tự nhiên là những yếu tố tinh thần và văn hóa nào đã un đúc nên một dân tộc tính cao đẹp như thế. Có nhiều cách nhìn nhưng tựu trung có 4 hướng chính: Ðó là từ phía truyền thông đại chúng, phía doanh nhân và khoa học kỹ thuật, phía chính trị cầm quyền và phía xã hội tôn giáo. Những yếu tố hình thành và chi tiết tạo tác tương ưng cái “tinh thần Nhật Bản” ấy tuy khác nhau nhiều về cách thế, nhưng câu trả lời xương sống mà hầu như mọi phía đều đồng ý là: Dân tộc Nhật Bản từ thế kỷ thứ 6 sau Công nguyên đã sống và chiến đấu bằng tinh thần Thần Ðạo; nhưng cung cách xử thế tiếp vật trầm tĩnh, kham nhẫn và ý chí chịu đựng để sáng suốt vươn lên trong mọi tình huống cay nghiệt nhất đã được un đúc bằng tinh thần Phật Giáo. Dân Nhật có 130 triệu nhưng hơn 100 triệu là tín đồ Thần Ðạo Phật Ðạo. Sự tĩnh tại của đạo Phật là một sức mạnh tinh thần nội tại. Tôn giáo không khuất bóng trong những suy niệm siêu hình mà thể hiện thành một “tinh thần Nhật Bản” có bản sắc dân tộc đầy dũng cảm, hy sinh, tự chế và tự trọng làm cho thế giới nghiêng mình cảm phục.
Suốt 15 thế kỷ sóng lành của đạo Phật đã thường xuyên có mặt bên cạnh những ngọn sóng thần đầy cuồng nộ – cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng – trong dòng lịch sử nhiều thăng trầm của nước Nhật.
Nhà văn Trần Mộng Tú đã có một đoạn viết rất đẹp về hình ảnh và tinh thần Võ sĩ Ðạo – Samurai – của Nhật: “Hầu hết những nguyên tắc của Võ Sĩ Ðạo đều dựa trên căn bản triết lý của đạo Phật và Thần đạo. Thần đạo thiên về khía cạnh tích cực, hướng dẫn con người thăng hoa vật chất, phát huy tối đa sự sáng tạo, xây dựng một xã hội vượt bực bằng tất cả khả năng của mỗi cá nhân. Trong khi đó Phật giáo giúp cho con người nhìn thấy cái phù du của đời sống, cái hư ảo của mất còn. Hai tôn giáo này đã nằm trong máu người dân Nhật. Nên với những phẩm hạnh đó, các Samurai hành xử qua sự thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo, đặc biệt tinh thần an nhiên của Phật Giáo Thiền Tông, đơn giản và tĩnh lặng. Họ trở thành những anh hùng đơn giản và bình tĩnh trước mọi tình huống. Samurai tự coi mình mang vẻ đẹp thanh cao và lý tưởng của hoa Anh Ðào. Khi nắng xuân ấm áp những nụ hoa Anh Ðào đang khép, nở bung ra, nó khoe tất cả những nét đẹp tuyệt vời của từng cánh hoa. Nhưng khi một trận gió, một cơn mưa xuân đến thổi tung cánh hoa lìa cành, nó cũng dâng hiến một trận mưa hoa ngoạn mục trong không gian, để mọi người đứng ngẩn ngơ chiêm ngắm. Sống và chết, hoa Anh Ðào cùng khoe vẻ đẹp dù mong manh ngắn ngủi.”
Từ một vùng quê Việt Nam vô danh sau chiến tranh như làng tôi cho đến điểm nóng trong mắt nhìn thế giới như nước Nhật hôm nay, đạo Phật đã đến và ở lại không hồ nghi, phân biệt. Tánh Phật giữa đời thường có khi nhỏ bé và đơn sơ như một hạt cát: Lành. Có khi cao rộng, thâm sâu mà vô tâm như suối nguồn hạnh phúc: Xả !
Năm nay, mùa Phật Ðản lại về trong khung cảnh toàn thế giới đang trải qua nhiều biến động chẳng lành. Thiên tai xẩy ra liên miên ở nhiều nơi gieo nhiều tang thương và bể khổ. Nhiệt độ trái đất đang nóng dần kéo theo khả năng hủy diệt môi trường sống. Ngôn ngữ súng đạn thay cho ái ngữ cảm thông thương thảo hòa bình trong quan hệ quốc tế. Chỉ riêng tại xứ Hoa Kỳ nầy, đầu năm ở miền Ðông có những đàn chim hàng chục nghìn con đang bay rợp trời bỗng rơi xuống chết đầy đường. Cùng thời gian động đất xảy ra ở Nhật, ở bờ biển phía Tây Nam California, hàng triệu con cá chết đột ngột, xác đóng dày bãi biển tới 30cm mà không hiểu nguyên nhân vì sao. Hiện tại, tin từ Florida cho biết trong vùng vịnh Mexico cực Ðông Nam của Mỹ, đang có hàng chục nghìn con cá voi khổng lồ kết thành một vòng tròn chợt biến, chợt hiện chẳng biết vì lí do gì. Người ta lo ngại hiện tượng “chim sa cá... chết” là điềm báo trước chuyện chẳng lành. Cho dẫu đó là những hiện tượng thiên nhiên do sự biến động môi trường sinh thái đang âm ỉ hoặc bừng bừng diễn ra trên địa cầu hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên thôi, nhưng tại sao con người càng văn minh tiến bộ, càng no cơm ấm áo – cứ ngỡ như đang đứng lấp ló ở cửa Thiên Ðường, Niết Bàn – lại càng canh cánh nỗi lo bên mình đến thế.
Ðiều nghịch lý đầy mỉa mai cho khát vọng hòa bình an lạc của con người là phương tiện vật lý càng giàu có thì kết quả tinh thần càng nghèo khó. Khoa học kỹ thuật và giao thông vận tải phát triển, những tưởng càng ngày con người càng có điều kiện đến gần nhau hơn. Nhưng thực tế thì lại càng tạo ra mầm đối đầu và xung đột nhiều hơn là cảm thông và hóa giải. Môi trường truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, truyền thanh, mạng lưới vi tính, điện thư, điện thoại cầm tay... ngỡ như giúp con người sống chan hòa, chia sẻ với nhau giữa lòng cuộc đời thì lại càng làm cho những đối tượng hiểu lầm, cô đơn và xa cách nhau nhanh chóng hơn.
Phải chăng vì “một dòng nước trong năm bảy dòng nước đục” đang xâm lấn địa cầu nên năng lượng lành càng ngày càng mất. Sóng đời thô nhám quá nên khó bắt được sóng lành co rút lại, ẩn sâu kín trong đáy lòng người khó ngoi lên được.
Ðức Phật ra đời, đem đến cho trần gian một pháp môn vi diệu nhất: Buông xả. Khi tất cả đều trống không và rỗng lặng thì ôm đồm và khư khư nắm giữ gì đây"! Ðạo Phật kế thừa đem đến cho người phương thuốc thần diệu nhất: Thêm vui, bớt khổ. Cho đến một ngày chỉ có toàn niềm vui là ngày đắc đạo!
Ngày 31 tháng 3 năm 2011, một người Nhật tên là Masaru Emoto, gởi điện thư cho nhiều người trên thế giới. Anh là một nhà khoa học và cũng là một nghệ sĩ, tự nhận mình là một Người Mang Thông Tin của Nước (Messenger of Water). Trước hết anh chứng minh rằng, công thức về năng lượng lừng danh của nhà bác học Albert Einstein, E=MC², thật sự có nghĩa rằng: Năng lượng = Số người nhân với bình phương của lương tâm. (Energy = Men × Conscience²) Bởi thế theo sự hiểu biết và trải nghiệm của anh trong suốt 20 năm nghiên cứu và làm việc với môi trường Nước thì nước thiên nhiên đã trở thành trong mát hơn khi nó nhận những làn sóng rung động vi tế xuất phát từ tấm lòng lành cầu nguyện của con người, bất luận dẫu cho sóng lành cầu nguyện đó ở cách xa bao nhiêu. Trong hoàn cảnh bi thảm của lò nguyên tử Fukushima bị rò rỉ sau trận động đất tại Nhật, phóng xạ nguyên tử mang khả năng giết người và mọi loài sinh thể đã tìm thấy lan vào trong vùng nước xung quanh. Theo Emoto, sự khôn ngoan của trí tuệ con người chưa đủ cứu nguy khi sóng nước thiên nhiên đã và đang đến hồi cuồng nộ, nhất là dòng nước bị con người đưa vào lò phản ứng nguyên tử để làm dịu lại nguy cơ nóng chảy các thiết bị kích hoạt phản ứng. Cần phải có sóng lành của tâm hồn mới mong góp phần cứu khổ. Anh tha thiết khẩn cầu nhân loại trên toàn thế giới đúng 12:00 giờ trưa hôm nay tại múi giờ của mình, xin lắng lòng cầu nguyện để chuyển tải năng lượng lành tới cứu nguy cho vùng đất trời đang bị nạn. Lời cầu nguyện: “ Xin hướng về Nước của Lò Nguyên Tử Fukushima, chúng tôi xin tạ lỗi đã làm cho Nước phải chịu đựng khổ đau. Xin tha lỗi cho chúng tôi. Xin cảm tạ Nước với lòng yêu thương.” (The Water of Fukushima Nuclear Plant, we are sorry to make you suffer. Please forgive us. We thank you and we love you.) Một lời nguyện đơn giản thế thôi, nhưng nếu được cả hàng tỷ người cùng phát sóng từ trái tim mình, năng lượng giao thoa sẽ có hùng lực không thể nghĩ bàn, xoay chuyển được những chuyển động của vũ trụ.
Không phải chỉ có ngày hôm nay mà ước mong mùa Phật Ðản năm nay và mãi mãi rằng, chỉ có sóng lành trôi chảy trong tâm thức của nhân gian để cho bụi đời lắng xuống: Một con nước đục, một chục dòng trong. Chỉ có sự trong ngần mới thấy được nhau để cảm thông và hóa giải.
Sacramento, mùa Phật Ðản 2600; Vesak 2011
Trần Kiêm Ðoàn

Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.