Hôm nay,  

Quan nhất thời - Dân vạn đại

09/04/201100:00:00(Xem: 11028)

Quan nhất thời - Dân vạn đại

Đoàn Thanh Liêm

Vào giữa tháng Ba 2011, trong dịp tham dự Đại hội Thường niên của tổ chức Ân xá Quốc tế Hoa kỳ (Amnesty International USA) tại thành phố San Francisco, California, tôi được nghe một diễn giả phát biểu mà thật lấy làm tâm đắc. Ông nói đại để như sau : "Các bạn thấy đấy : Họ đến, rồi tất cả họ lại đi thôi, không hề có một biệt lệ nào cả ! (They come, then they go, all of them - not any exception whatever !) Bất kể đó là vị Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, là Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Nghị sĩ, Dân biểu v.v…Hết thảy họ đến, rồi họ cũng phải ra đi mà thôi. Chỉ có khối đông đảo quần chúng nhân dân chúng ta là còn tồn tại mãi mà thôi. Xin các bạn nhớ cho: Đó là một quy luật muôn đời của xã hội loài người chúng ta vậy đó "

Cử tọa - gồm phần đông là giới trẻ cỡ trên dưới 30 tuổi - đã tán thưởng và vỗ tay nồng nhiệt. Cũng xin ghi thêm là hôm đó diễn giả gợi ra cái ngọn lửa bừng cháy trong cuộc nổi dậy của người dân ở Tunisia, ở Ai cập, mà được gọi là "cuộc Cách mạng Hoa Lài" nhằm xóa bỏ hẳn được chế độ độc tài tại hai quốc gia này ở khu vực Bắc Phi châu và Trung Đông vào đầu năm 2011.

Lời phát biểu chắc nịch đó đã làm cho tôi nhớ lại cái điều mà cha ông chúng ta xưa nay vẫn nói : "Quan nhất thời - Dân vạn đại". Và người viết xin trưng dẫn câu đó để làm nhan đề cho bài viết này. Cũng với dòng liên tưởng đó, tôi xin ghi thêm câu tục ngữ thông dụng, hay được bà con nói lên, cốt ý để nhắc nhở cảnh giác đối với giới chức có thế có quyền phải liệu mà cư xử làm sao cho có nhân có đức, đừng có làm điều chi xấu xa tồi bại, đến nỗi khiến cho người đời sau phải trách cứ chê bai mãi mãi. Câu tục ngữ đó như sau :

"Trăm năm bia đá thì mòn - Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ"!

Cũng về đặc tính của tổ chức sinh họat trong xã hội con người như thế, mà từ xưa các nho sĩ nước ta thường vẫn hay nhắc lại câu nói của thầy Mạnh Tử là một bậc thức giả nổi danh của Trung quốc, câu này được ghi ra bằng tiếng Hán Việt như sau : " Dân vi quý - Xã tắc thứ chi - Quân vi khinh". Tức là xác nhận địa vị cao quý của người dân là quan trọng trên hết. Sau đó, thì mới đến tổ chức lề lối phép tắc của xã hội. Còn bậc vua quan, giới chức chính quyền, thì phải xem nhẹ thôi ( chữ khinh ở đây có nghĩa là nhẹ, trái nghĩa với chữ trọng = nặng).

Liên hệ đến hòan cảnh thực tế ở nước Việt nam chúng ta từ trên 60 năm nay, kể từ ngày người cộng sản lên nắm được chính quyền trong tay, thì rõ ràng là họ đã thiết lập nên một chế độ "độc tài tòan trị" về mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, bằng đủ mọi thủ đoạn thâm độc để kềm kẹp, đàn áp tàn bạo đối với người dân chúng ta. Họ du nhập từ mãi Liên Xô, Trung quốc để đưa vào nước ta cái chủ trương bạo lực sắt máu gọi là "nền chuyên chính vô sản" (the proletarian dictatorship) với phương thức đấu tranh hận thù giai cấp, với khẩu hiệu "trí phú địa hào - đào tận gốc - trốc tận rễ". Họ khôn khéo lừa gạt người dân bằng những lời hứa hẹn là sẽ xây dựng một xã hội lý tưởng tốt đẹp, trong đó mọi người yêu thương đùm bọc lẫn nhau, không còn tệ nạn người bóc lột người như xưa nữa v.v…Vào lúc này, thì mọi người dân đều thấy rõ tất cả những điều hứa hẹn đó chỉ là một cái thứ bánh vẽ, không hề có thực trong nước ta sau trên 60 năm dưới quyền cai trị của đảng cộng sản. Ta khỏi cần dài dòng về chuyện này nữa.

I - Lời cảnh báo gửi đến cho giới lãnh đạo cộng sản.

Sau thời gian dài bị mê hoặc ru ngủ bởi những lời lẽ đường mật xảo trá của lối tuyền truyền cộng sản, người dân Việt nam đã bắt đầu tỉnh ngộ nhận ra được bản chất dối trá tàn ác của chế độ độc tài ngoan cố này. Và từ đó mà đang cùng nhau " nối vòng tay lớn" để tự giải thóat khỏi cái gông cùm ác nghiệt đó.

Như vậy, thì vấn đề cấp thiết hiện nay là nhân dân chúng ta phải quyết tâm dành lại cho bằng được cái quyền "tự làm chủ trên đất nước của mình", để mà cùng nhau bắt tay vào công cuộc phục hồi lại cái nền nếp sinh họat nhân ái, hòa nhã trong xã hội như cha ông chúng ta đã xây dựng được từ bao nhiêu thế hệ trước đây, trong suốt thời kỳ tự chủ lâu dài của lịch sử dân tộc.

Để bắt đầu, ta cần xác tín rằng cái chế độ tàn bạo bất nhân, tham nhũng thối nát do nhà cầm quyền cộng sản dựng lên, thì dứt khóat là phải bị lọai trừ tiêu hủy đi thôi. Và giới lãnh đạo đứng đầu cái chế độ ác đức vô luân đó sẽ phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về những hành vi tội phạm man rợ khủng khiếp do họ đã ngoan cố gây ra từ nhiều năm qua, điển hình như vụ thảm sát hàng mấy ngàn người dân vô tội hồi Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế.

Không thể nào mà giới lãnh đạo chủ chốt này lại thóat khỏi được cái trách nhiệm hình sự do nguyên tắc "thời hiệu tố quyền bị tiêu diệt" (statutes of limitation) như được quy định trong các bộ luật hình sự đối với các tội phạm thông thường. Lý do là các tội phạm do các chế độ độc tài gây ra đã quá nặng nề trầm trọng, nên không thể nào mà để cho xảy ra trường hợp "chìm xuồng", khiến cho các thủ phạm chính yếu cứ nhởn nhơ sống ngòai vòng cương tỏa như người vô tội, vô trách nhiệm mãi được.

Điều 29 của Quy chế Rome (Rome Statute) của Tòa Án Hình sư Quốc tế đã quy định rằng : "Đối với những tội phạm diệt chủng, chống nhân lọai, tội phạm chiến tranh, thì đều không được áp dụng nguyên tắc thời hiệu tố quyền bị tiêu diệt". Như vậy, dứt khóat là những kẻ ác ôn tàn bạo hiện nay trên đất nước ta sẽ không thể nào thóat khỏi trách nhiệm hình sự trước pháp luật, cũng như trước công luận của xã hội sau này được.

Đây chính là lời cảnh giác nghiêm trọng mà tập thể quần chúng nhân dân chúng ta công khai gửi đến cho tòan thể giới lãnh đạo cộng sản hiện nay ở Việt nam vậy. Đó cũng là cơ hội để nhân dân thể hiện quyền làm chủ tối thượng của mình trên quê hương đất nước chúng ta vậy (people's sovereign power).

II - Sự bền vững của Xã hội Dân sự.

Trở lại với câu chuyện "Dân vạn đại", ta có thể nói rằng cái khối quần chúng nhân dân đông đảo này chính là cốt lõi vững chắc của Xã hội Dân sự, tức là khu vực nằm ngòai chánh quyền, và khác biệt với khu vực kinh doanh kỹ nghệ thương mại.

Lấy trường hợp của Tổng thống Jimmy Carter, khi ông rời bỏ Tòa Bạch ốc để về nghỉ hưu vào đầu năm 1981, thì ông trở về giữ cương vị một người công dân bình thường như tuyệt đại đa số người dân Mỹ khác. Và từ trên 30 năm nay, Jimmy Carter đã được, không những là dân chúng Mỹ, mà còn cả tòan thể thế giới ca ngợi mến phục vì những đóng góp lớn lao trong lãnh vực nhân đạo từ thiện, và nhất là trong công cuộc hòa giải tranh chấp và xây dựng hòa bình trên thế giới. Rõ rệt ông là một nhân vật kiệt xuất, một tiêu biểu sáng ngời của Xã hội Dân sự tại nước Mỹ và trên tòan cầu nữa. Sự nghiệp sau khi về hưu của Jimmy Carter lại còn chói sáng gấp bao nhiêu lần so với thành tích trong nhiệm kỳ ông giữ chức vụ lãnh đạo cường quốc Hoa kỳ hồi cuối thập niên 1970 nữa.

Cũng vậy, các vị lãnh đạo quốc gia sau khi về hưu như Lech Walesa ở Ba lan, Vaclac Havel của Tiệp khắc, Nelson Mandela của Nam Phi, Bill Clinton của Mỹ, Tony Blair của Anh quốc v.v…, thì hiện đã có những công trình văn hóa xã hội thật đáng khen ngợi. Họ đều tiếp tục dấn thân phục vụ dân tộc và đất nước của mình với sự hăng say và hiệu quả rất cao trong phạm vi Xã hội Dân sự, có khi còn xuất sắc hơn là khi còn là người lãnh đạo chánh quyền nữa. Người viết sẽ sưu tầm, tìm hiểu thêm chi tiết về sinh họat của các vị cựu nguyên thủ quốc gia này và sẽ xin trình bày về những đóng góp của họ trong một dịp khác vậy.

Để tóm tắt lại, ta có thể ghi nhận rằng từ mấy chục năm gần đây, phong trào quần chúng nhân dân tại nhiều nơi trên thế giới đã và đang mỗi ngày một phát triển mạnh mẽ, nhằm dành lại quyền tự quyết của mình trong công cuộc xây dựng một đời sống ấm no hạnh phúc, với tự do, nhân phẩm và nhân quyền được bảo đảm tôn trọng. Đó là một xu thế tất yếu của thời đại, mà không một chế độ độc tài phản động ngoan cố nào lại có thể dùng bạo lực cản trở được.

Mặt khác, vì tuổi thọ của con người cũng mỗi ngày một tăng cao, nên giới sĩ phu trí thức ưu tú tại các quốc gia văn minh dân chủ lại càng có nhiều thời gian để phục vụ quê hương dân tộc của mình với một năng suất tối hảo, để góp phần làm tăng thêm phẩm chất cuộc sống của đồng bào thân thương của mình nữa.

Và đó là niềm hy vọng tươi sáng cho con người trên khắp hành tinh trái đất chúng ta hiện nay trong thế kỷ XXI vậy./

California, tháng Tư 2011

Đòan Thanh Liêm

Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.