Hôm nay,  

Đối Thoại Mỹ-Hoa

13/05/201100:00:00(Xem: 10339)

Đối Thoại Mỹ-Hoa

Nguyễn Xuân Nghĩa & Vũ Hoàng RFA

...Bắc Kinh e sợ nhất là Mỹ mà giải quyết xong cuộc chiến khủng bố thì sẽ chú trọng hơn đến Đông Á...

Suốt hai ngày mùng chín mùng mười tuần này, phái đoàn hùng hậu của Hoa Kỳ và Trung Quốc đã có hàng loạt những cuộc tiếp xúc tại thủ đô Washington D.C. của Hoa Kỳ. Đây là kỳ thứ ba của chương trình gọi là "Đối thoại về Chiến lược và về Kinh tế" giữa hai nước đứng đầu thế giới về kinh tế và cũng là giữa một quốc gia dân chủ nhất là Hoa Kỳ với một xứ đông dân nhất mà có chế độ độc đảng là Trung Quốc. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu về khuôn khổ đối thoại này trong phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, thưa ông, là mối quan tâm của nhiều người, kể cả ở Việt Nam. Tuần này, các lãnh đạo cao cấp của đôi bên đã lại có một cuộc họp định kỳ tại thủ đô Mỹ. Theo dõi tình hình Trung Quốc và mối quan hệ giữa hai quốc gia này, ông đánh giá ra sao về các cuộc gặp gỡ đó" Như mọi khi, xin ông trình bày cho bối cảnh của vấn đề.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ đi từ chuyện xa ra chuyện gần.
- Hoa Kỳ đã có quan hệ với Trung Quốc có thể gọi là từ tiền kiếp, tức là trước khi trở thành một nước độc lập. Nhưng khi Hoa Kỳ xuất hiện, là từ cuối thế kỷ 18, và phát triển thành một quốc gia hùng mạnh và thịnh vượng, là trong 200 năm qua, thì cũng là lúc "siêu cường" của thế giới thời đó là Trung Quốc lại bắt đầu lụn bại, từ sau thời Càn Long trở đi. Rồi bị tan rã trong nhiều thập niên cho đến ba chục năm trước mới tái xuất hiện như một cường quốc. Đó là bối cảnh chung.
- Nói về quan hệ kinh tế thì biến cố năm 1773 đánh dấu phong trào nổi dậy giành độc lập là vụ "khởi nghĩa vì trà" - người Mỹ gọi là "Boston Tea Party". Đó là khi cư dân quăng trà xuống biển tại hải cảng Boston để phản đối chính khách thuế khóa của chính quyền thuộc địa của Đế quốc Anh. Trà đó không là trà Ấn Độ mà người Anh hay uống mà là trà Tầu, điều ấy cho thấy là từ tiền kiếp rồi, Mỹ đã nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc!
- Sau đấy, khi nhà Đại Thanh bị suy yếu và bị các nước Âu Châu gây sức ép để đòi buôn bán và thậm chí tấn công để khai thác, Hoa Kỳ vẫn đứng ngoài vì theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ họ mới thành lập, hơn là bành trướng ra ngoài. Dân Mỹ chỉ quan tâm đến Trung Quốc qua các nhà truyền giáo mà chẳng biết tới ảnh hưởng thật ra giới hạn của các mục sư trong thiện chí này.
- Khi sáu nước Âu Châu và Nhật tấn công Trung Quốc bằng võ lực, Hoa Kỳ không tham dự vào cái gọi là "bát quốc liên quân" mà chỉ đòi là Trung Quốc mà cho các nước những điều kiện gì thì mình cũng được như vậy. Đó là nguyên ủy của quy chế ta gọi là "tối huệ quốc" sau này. Khi các nước đòi Trung Quốc bồi thường thiệt hại vì vụ nổi dậy và đập phá các cơ sở Tây phương của phong trào gọi là "Nghĩa hoà đoàn" cũng bị gọi là "Loạn quyền phỉ" vào cuối thế kỷ 19, Hoa Kỳ cũng nhận tiền bồi thường, nhưng lại dùng để cấp học bổng cho sinh viên Trung Quốc đi học để nâng cao dân trí và tin rằng lãnh đạo Trung Quốc hiểu ra thiện chí của mình.
Vũ Hoàng: Xin hỏi ông ngay một câu, trong phần trình bày về bối cảnh vừa qua, ta thấy ra nào là việc buôn bán, việc truyền giáo, việc chấp nhận quy chế giao thương không hạn chế gọi là tối huệ quốc, thậm chí cả chiến tranh và du học sinh, v.v... Chúng ta thấy ra toàn những vấn đề có thể nói là "hiện đại", là thời sự. Có phải như vậy không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng thế và xuyên qua đó ta còn thấy nhiều hiểu lầm từ cả hai phía!
- Hoa Kỳ tưởng rằng mình có thiện chí, Trung Quốc thì coi là Hoa Kỳ chẳng khác gì Âu Châu hay Nhật Bản đã từng tấn công và khuynh đảo xứ mình. Qua thế kỷ 20, tình trạng hiểu lầm đó còn tiếp tục, nhất là khi lãnh đạo Trung Quốc thấy xứ sở bị tàn phá, chủ quyền bị xâm lấn và khi phe Cộng sản chiến thắng thì mối hoài nghi hoặc ác cảm đó chỉ tăng vì do nhu cầu chống Nhật, Hoa Kỳ yểm trợ Trung Hoa Quốc Dân Đảng cho tới năm 1947 mới chấm dứt.
- Ngược lại, Hoa Kỳ chưa có chủ đích rõ rệt với chế độ mới thành hình tại Trung Quốc vào năm 1949 thì lại giật mình vì phản ứng bành trướng "để tự vệ" của Cộng sản Trung Hoa. Lãnh đạo Bắc Kinh coi việc họ chiếm đóng Tân Cương, Tây Tạng và đưa quân vào bán đảo Triều Tiên là để tự vệ, tức là xây vùng trái độn để khỏi bị uy hiếp như đã từng bị trong lịch sử của họ. Phía Mỹ thì coi đó là sự xâm lăng trắng trợn.
- Suốt hai chục năm đầu của đảng Cộng sản Trung Quốc thời Mao - từ 1949 đến 1969 - Hoa Kỳ đứng ngoài để canh chừng sự bành trướng chung của khối Cộng sản trong toàn cục của Chiến tranh lạnh, và dù có tham chiến tại Việt Nam thì vẫn không muốn trực tiếp gây hấn với Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc bước vào thời kỳ cách mạng hoang tưởng và sắt máu của Mao Trạch Đông để xây dựng "xã hội chủ nghĩa" và làm xứ sở thêm lụn bại trong sự cô lập mê sảng.
Vũ Hoàng: Cho đến khi Tổng thống Richard Nixon mở đường đối thoại và kéo Trung Quốc ra khỏi thời kỳ cô lập đó, vào năm 1972"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và chúng ta bước qua bối cảnh hiện tại.
- Bối cảnh này có ba mốc thời gian đáng kể là năm 1972 là khi ông Nixon đi Tầu như ông vừa nhắc tới; là năm 1979 là khi Hoa Kỳ bang giao với Bắc Kinh, cho Trung Quốc gia nhập Liên hiệp quốc, mà đó cũng là năm Đặng Tiểu Bình khởi sự cải cách kinh tế sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng vào tháng 12 năm 1978. Sau cùng và đáng kể vì gần nhất là năm 2001 khi Hoa Kỳ đón nhận Trung Quốc vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
- Nhờ được mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng với tốc độ cao hơn và có giúp cho mấy trăm triệu người ra khỏi hoàn cảnh chết đói vì nghèo khốn. Nhưng cũng vì vậy mà quan hệ kinh tế với Mỹ bắt đầu có vấn đề và đôi bên cần một diễn đàn đối thoại.
Vũ Hoàng: Chúng ta đi vào chuyện thời sự với cuộc đối thoại tuần này. Trước nhất, đó là về kinh tế có phải không"

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Mọi sự bắt đầu từ năm 2004, bên lề Thượng đỉnh APEC tức là Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương tại Chile, khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đề nghị với Tổng thống George W. Bush là cấp lãnh đạo kinh tế hai nước nên có những gặp gỡ định kỳ để thảo luận về các vấn đề song phương. Nôm na là về áo cơm giữa hai nước thì nên nói chuyện phải quấy với nhau, chớ đừng đánh nhau bằng luật lệ hay tố tụng! Cuộc gặp gỡ lần đầu là vào Tháng Tám năm 2005 tại Bắc Kinh. Lần thứ nhì là Tháng 12 năm đó tại thủ đô Washington D.C. Tổng cộng là sáu lần trong ba năm....
- Qua năm 2006, Tổng thống Bush và Hồ Cẩm Đào đồng ý nâng cấp đối thoại lên một bậc và định chế hóa việc này thành một năm hai phiên họp, luân phiên tại thủ đô của hai nước. Tổng cộng thì hai bên có năm phiên họp như vậy, phía Hoa Kỳ do Tổng trưởng Ngân khố làm trưởng đoàn, phía Trung Quốc là Phó Thủ tướng, khi ấy là bà Ngô Nghi. Đó là khuôn khổ đối thoại kinh tế mang tính chất chiến lược, gọi là Strategic Economic Dialogue, trong đó, tầm chiến lược của vấn đề kinh tế được nhấn mạnh: chữ "chiến lược" là hình dung từ bổ nghĩa cho chữ "kinh tế".
- Thế rồi đến Thượng đỉnh G-20 vào Tháng Tư năm 2009, lãnh đạo hai nước là Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đề nghị mở rộng tầm đối thoại. Từ nay sẽ bao gồm hai loại hồ sơ là kinh tế lẫn chiến lược giữa đôi bên. Thực tế là nói chuyện về quan hệ kinh tế và ngoại giao giữa hai quốc gia lẫn các vấn đề đáng quan tâm của thế giới. Ngoài giới chức kinh tế tài chánh, còn có sự tham dự của viên chức ngoại giao cấp cao.
- Đồng chủ tịch của phần vụ đối thoại về kinh tế là Tổng trưởng Ngân khố Mỹ Timothy Geithner và Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn. Đồng chủ tịch của phần vụ đối ngoại về chiến lược là Ngoại trưởng Hillary Clinton và Ủy viên Quốc vụ viện Đới Bỉnh Quốc - ông này một "siêu Tổng trưởng" và nhân vật có thẩm quyền về ngoại giao của Trung ương đảng. Khuôn khổ đối thoại vừa kinh tế vừa chiến lược (S&E thay vì SE) xuất phát từ đó. Lần này là cuộc gặp gỡ thứ ba. Nhưng lần này, việc đối thoại hoặc thực tế là thương thảo song phương còn có ý nghĩa khác. Vì một sáng kiến của... Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ.
Vũ Hoàng: Ông vừa trình bày tính cách mở rộng của đối thoại, từ kinh tế qua chiến lược, bây giờ lại có thêm một nội dung đối thoại khác là quân sự nữa hay sao"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Số là trong hơn một năm liền Trung Quốc từ chối thảo luận về các vấn đề quân sự, Tháng Giêng vừa qua, khi thăm viếng Bắc Kinh và chứng kiến sự xuất hiện của máy bay tàng hình "Tiêm kích J-20" Trung Quốc trước vẻ ngơ ngác của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Tổng trưởng Quốc phòng Mỹ là ông Robert Gates đề nghị là đôi bên nên đưa vấn đề an ninh vào nghị trình các buổi họp, với sự tham dự của các giới chức về an ninh và quân sự.
- Lý luận ở đây là quan hệ giữa đôi bên đã suy đồi vì những gián đoạn thông tin và thiếu thảo luận về quân sự và quốc phòng. Từ việc Mỹ cung cấp võ khí cho Đài Loan tự vệ đến nỗ lực trang bị quân sự của Bắc Kinh, hoặc khủng hoảng tại bán đảo Triều Tiên vì Bắc Hàn, v.v... hai bên có những động thái khiến bên kia nghi ngờ. Chi bằng công khai hóa quyết định của mình. Hoa Kỳ đã có khuôn khổ đối thoại và thương thảo như vậy với Liên bang Nga, cớ sao không có một nơi thảo luận tương tự với Trung Quốc" Sau cùng thì Bắc Kinh đồng ý. Như vậy, việc nâng cấp rồi mở rộng nội dung đối thoại phản ảnh nhiều vấn đề căng thẳng trong quan hệ song phương giữa hai nước, từ kinh tế qua chiến lược, rồi an ninh và quân sự. Nhưng vì là lần đầu nói chuyện, không ai chờ đợi một kết quả đột phá.
Vũ Hoàng: Khi theo dõi thì ông thấy nghị trình thảo luận giữa đôi bên có những gì là đáng chú ý"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng ngoài lãnh vực an ninh và quân sự chưa có kết quả vì nghi ngờ còn quá sâu đậm, phía Hoa Kỳ cũng muốn Bắc Kinh giải thích cảm nghĩ của mình về mấy điểm nóng của thế giới. Thí dụ như phong trào dân chủ có là âm mưu của Mỹ không, hay là trào lưu tất yếu nhân loại" Cớ sao Trung Quốc lại có vẻ sợ hãi và bắt bớ lung tung" Song song với hội nghị này, Ngoại trưởng Hillary Clinton có nói với báo chí Mỹ việc Bắc Kinh cưỡng chống trào lưu dân chủ chỉ là phản ứng khôi hài và vô vọng. Bà dùng một thành ngữ của Mỹ, cũng tương tự như ta gọi là "đi chăn vịt trời vậy"! Bà còn nói thêm là mô thức phát triển của Trung Quốc không có tương lai và tất yếu sẽ khủng hoảng, tức là một nhận định rất nghiêm khắc. Ngoài ra, đôi bên có thể còn trao đổi về các hồ sơ chiến lược khác, kể cả nỗ lực chống khủng bố.
- Trong đề mục của chúng ta thì mình chú ý đến loại hồ sơ thứ ba sau an ninh và chiến lược, là hồ sơ kinh tế. Phía Hoa Kỳ muốn mở rộng tầm đối thoại ra khỏi chuyện hối suất đồng Nguyên và đã ký kết một thỏa ước chung về hợp tác kinh tế, ngoại thương và đầu tư.
- Tổng kết thì từ năm ngoái, Trung Quốc có chiều hướng đối thoại nhũn nhặn hơn. Bắc Kinh chuẩn bị chuyển hướng kinh tế để tránh khủng hoảng và chuyển giao quyền lực cho thế hệ thứ năm sẽ lên lãnh đạo sau Đại hội 18 vào năm tới. Nhưng dưới vẻ nhũn nhặn là một chiến dịch tăng cường khả năng quân sự lồng trong cuộc vận động ngoại giao nhằm tạo ra hình ảnh ôn hòa và hào phóng hơn của Trung Quốc với nhiều quốc gia trên thế giới.
- Ngược lại, từ 10 năm trước, Mỹ mở cửa cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức WTO với hy vọng là xứ này sẽ cải cách cả kinh tế lẫn chính trị, trở thành hiếu hòa và biết điều hơn trong một thế giới hội nhập. Chuyện ấy không xảy ra. Nhờ hội nhập, Trung Quốc vọt lên thành đại cường kinh tế và lại đòi lấn lướt các xứ khác trong khi vẫn giữ ách độc tài bên trong. Bây giờ, Hoa Kỳ cần xuất khẩu nhiều hơn và khó chấp nhận những hạn chế của Trung Quốc ở bên trong và sự bành trướng để uy hiếp xứ khác ở bên ngoài. Cho nên tôi nghĩ rằng vì kinh tế lẫn chiến lược, quan hệ đôi bên sẽ chỉ thêm căng thẳng. Và Bắc Kinh e sợ nhất là Mỹ mà giải quyết xong cuộc chiến khủng bố thì sẽ chú trọng hơn đến Đông Á như Ngoại trưởng Clinton đã thông báo từ năm 2009.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa và chúng ta sẽ còn trở lại hồ sơ này trong các kỳ sau.

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.