Hôm nay,  

Một Thoáng Văn Học

18/07/201100:00:00(Xem: 7248)

Một Thoáng Văn Học

Song Kim
Để tưởng niệm 50 năm Ernest Hemingway từ trần, vào đầu tháng 7 năm 1961; xin ghi lại một vài nhận xét văn học qua tác giả Hoa Kỳ được nhắc nhở và biết đến rất nhiều. Những tác phẩm của Pearl Buck nói nhiều đến văn hóa Trung Hoa; Ernest Hemingway là hình ảnh của một nghệ sĩ sống nhiều và trải dài kinh nghiệm với ngòi bút trên trang giấy; John Steinbeck với những đề tài ảnh hưởng đến người dân thường chịu hoạn nạn đắng cay thời kinh tế khủng hoảng qua cái nhìn nhân bản. Ông có viếng thăm và tiếp xúc với văn nghệ sĩ Việt Nam tại Saigon vào thập niên 60. Cũng vào thời gian này có những bản dịch rất hay, mặc dù có người nói: dịch là diệt (traduire, c'est trahuire); chứng tỏ những tài năng chuyển ngữ của văn học miền Nam (VNCH), như là : Đôi Bạn Chân Tình (Narziss und Golđmund của Hermann Hesse, Ngư Ông Và Biển Cả (The Old Man And The Sea của Ernest Hemingway), Mẹ Đảm Và Đàn Con Thơ (Mutter Courage und ihre Kinder của Bertold Brecht).
Trở lại với Ernest Hemingway, ông đã nói:
- về văn chương: "My aim is to put down on paper what I see and what I feel in the best and simplest way." (bản thân tôi mong là có thể viết khúc triết về những gì nhìn thấy và cảm được);
- về cuộc sống:"Every man's life ends the same way. It is only the details of how he lived and how he died that distinguish one man from another." (kết thúc của nhân thế như nhau, chỉ có khác biệt là sống ra sao và chết như thế nào);
- về kinh nghiệm: "It is good to have an end to journey toward; but it is the journey that matters, in the end." (thật vui khi xong hành trình song những trải nghiệm trong chuyến đi quan trọng hơn là đích đến).
Từ năm 1930 tới 1993 Hoa kỳ đoạt mười giải Nobel văn chương,
- năm 1930 là Eugene O’neill,
- năm 1938 Pearl Buck,
- năm 1949 William Faulkner,
- năm 1954 Ernest Hemingway,
- năm 1962 John Steinbeck,
- năm 1976 Saul Bellow,
- năm 1978 Issac Bashevis Singer,
- năm 1980 Czeslaw Milosz,
- năm 1987 Joseph Brodsky,
- năm 1993 Toni Morrison.
Bốn tác giả được nhắc đến nhiều nhất :

- Pearl Buck (1892-1973) có tên Trung Hoa là Sai Zhenzhu, bà đã sống với chồng từ năm 1920 đến năm 1933 trong khuôn viên đại học Nanjing, căn nhà này vẫn còn tồn tại với thời gian và được nhiều du khách thăm viếng. Cuốn truyện "Good Earth" tạo danh tiếng cho bà với giải Pulitzer Prize tại Mỹ và năm 1938 bà đoạt giải Nobel Prize in Literature.
- William Faulkner (1897- 1962) là một trong những nhà văn của miền Nam Hoa Kỳ được nhắc nhở cùng với các tên tuổi khác như Mark Twain, Tennessee Williams. Ông đoạt giải Nobel Prize in Literature vào năm 1949, sau đó giải Pulitzer Prize tại Mỹ .
- Ernest Hemingway (1899-1961) là một người sống và đi rất nhiều, các tác phẩm phản ảnh cuộc đời của ông, The Sun Also Rises (1926), A Farewell to Arms (Giã Từ Vũ Khí) năm 1929, For Whom the Bell Tolls (1940) được quay thành phim rất thành công. Ông xuất bản The Old Man and The Sea (Ngư Ông và Biển Cả) năm 1952 và đoạt giải Pulitzer Prize với cuốn truyện hơn 100 trang này với bút pháp độc đáo; năm 1954 Nobel Prize in Literature được trao tặng cho ông.
- John Steinbeck (1902-1968) sinh ra và sống tại vùng biển bắc California, thành phố tuyệt đẹp Monterey . Cuốn truyện The Grapes of Wrath (1939) nói về những người dân bình thường phải chịu đựng trong thời kỳ Great Depression gây một tiếng vang lớn. Trước đó là tác phẩm xuất sắc Of Mice and Men (1937) cũng nói về di dân đến California vì suy thoái kinh tế ở các vùng nội địa. Trong 2 năm 1939 và 1940, 2 tác phẩm này được quay thành phim, rất thành công, đặc biệt là The Grapes of Wrath với tài tử Henry Fonda và đạo diễn John Ford. Sau đó là East of Eden (1952), giải Nobel Prize in Literature được trao cho ông vào năm 1962. Trong bài diễn văn nhận giải tại Stockholm, thủ đô của Thụy Điển, ông nói: " nhà văn có được năng khiếu diễn tả trên trang giấy những gì mình nhận thấy, nhìn thấy, cảm thấy, trong khi các người khác không trình bày khúc triết được các diễn tiến và biến động xã hội; vì thế trách nhiệm của nhà văn là sống, quan sát qua nhiều khía cạnh, nhận thức rồi diễn tả với sự cân bằng trong tinh thần nhân bản; nhân thế khi đọc sẽ hình dung ra cảnh đời tại thời điểm diễn tả đó một cách trung thực; đó là nhiệm vụ cao qúy của nhà văn".

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.