Hôm nay,  

BRIC à BRAC

04/04/201200:00:00(Xem: 21833)
Thật ra, cái câu lạc bộ này chỉ ồn ào khi hùa nhau đả kích Mỹ...

Ngân hàng BRICS một dự án khó hoàn tất

Thành lập một ngân hàng phát triển chung hay «BRICS Bank» là sáng kiến được Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi đề xướng tại hội nghị Thượng đỉnh New Delhi ngày 28/03/2012. Ngân hàng BRICS thực sự đáp ứng những nhu cầu tài chính hay chỉ là những tính toán mang nặng màu sắc chính trị từ phía các nền kinh tế đang trỗi dậy ?

Trong bản thống cáo kết thúc Thượng đỉnh lần thứ tư tổ chức tại New Delhi, Ấn Độ vào tuần trước, năm nước thành viên nhóm BRICS nêu lên một số vấn đề kinh tế cần được xúc tiến. Nổi bật nhất là dự án thành lập ngân hàng phát triển chung có tên gọi là «BRICS Bank» hay «South–South Bank» để hỗ trợ cho các nước phương Nam phát triển. Rời khỏi New Delhi bộ trưởng Tài chính các nước thành viên bắt đầu nghiên cứu tính khả thi của một dự án được coi là đầy tham vọng.

Ngoài ra, Brazil Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi chỉ trích các nước công nghiệp phát triển đã bơm quá nhiều tiền vào guồng máy kinh tế của họ để vượt qua khủng hoảng tài chính 2009, qua đó tạo nên tình huống «dư thừa tiền mặt» trên thị trường, làm khuynh đảo thị trường tại các quốc gia đang vươn lên.

Điểm thứ ba làm nhóm BRICS bực bội liên quan đến tiến trình cải tổ bị coi là quá chậm chạp của định chế tài chính đa quốc gia, Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Các nền kinh tế đang trỗi dậy cho rằng phương Tây vẫn khóa chặt cửa IMF và WB để độc quyền lèo lái vận mệnh tài chính và kinh tế của thế giới.

Chính vì muốn thoát ra khỏi tình huống đó mà BRICS tại New Delhi đã coi dự án thành một lập ngân hàng phát triển chung là trọng tâm thượng đỉnh lần thứ tư. Mục tiêu đề ra nhằm tài trợ cho các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở tại các quốc gia đang phát triển đồng thời thắt chặt quan hệ giữa năm anh em cùng một nhà là Brazil, Nga, Á, Trung Quốc và Nam Phi.

BRICS bao gồm 40 % dân số trên hành tinh, bảo đảm đến gần 20 % GDP toàn thế giới và là khu vực có tỷ lệ tăng trưởng hấp dẫn vào bậc nhất địa cầu. Cho dù Bắc Kinh và New Delhi giảm dự phóng tăng trưởng cho năm 2012, nhưng GDP của Trung Quốc dự trù tăng 7,5 % và của Ấn Độ là 6,9 % cũng đủ làm các cột trụ kinh tế thế giới truyền thống là Âu Mỹ hay Nhật ganh tị. Năm ngoái tổng kim ngạch trao đổi mậu dịch giữa 5 thành viên tăng 28 %, đạt 230 tỷ đô la.

Nhóm BRICS hiện đang làm chủ một khối dự trữ ngoại tệ 5.000 tỷ đô la. Tham vọng thành lập một ngân hàng riêng của nhóm các quốc gia đang trỗi dậy cũng là điều dễ hiểu đặc biệt là khi khối tiền khổng lồ đó gần như chỉ được dành để mua công trái của Hoa Kỳ hay đầu tư vào châu Âu.

Với trọng lượng kinh tế ngày càng lớn, đòi hỏi phải có tiếng nói quan trọng hơn trên sân khấu kinh tế thế giới là điều chính đáng. Tuy nhiên, xét về phương diện kinh tế thì dự án cho ra đời thêm một ngân hàng phát triển để giúp đỡ các nước phương Nam không hẳn là một điều cần thiết. Đây là một dự án «nặng phần trình diễn» hơn là về mặt nội dung.

Về tính khả thi, dự án xây dựng một ngân hàng chung giữa năm quốc gia thuộc nhóm BRICS còn phải kể đến một yếu tố quan trọng: đành rằng Brazil, Nga, Ấn Độ Trung Quốc và Nam Phi đều muốn có một chỗ đứng quan trong hơn trên bàn cờ kinh tế và tài chính thế giới, nhưng bản thân các quốc gia này cũng có những quyền lợi chồng chéo với nhau và họ cũng là những quốc gia cạnh tranh lẫn với nhau. Đó là chưa kể đến những hiềm khích lịch sử và chính trị trong quá khứ.

Bên cạnh đó, hiểm họa lớn hơn nữa là trong tương lai Trung Quốc với 3.200 tỷ đô la dự trữ - nặng gấp sáu lần chiếc gối đô la của Nga và gần gấp 10 lần so với Ấn Độ - sẽ không ngần ngại áp đảo bốn thành viên còn lại trong nhóm BRICS.

Riêng đối với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, ngân hàng phát triển BRICS trong tương lại còn có nguy cơ trở thành một cánh cửa để Trung Quốc đổ vào các nước nghèo những dự án đầu tư bừa bãi, gây tai hại cho môi trường và đời sống con người.

Trước hết ông Nguyễn Xuân Nghĩa trở lại với sự hình thành và những bước đầu của nhóm năm nước BRICS.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Năm 2001, một kinh tế gia và Chủ tịch phân vụ Quản trị Tài sản của tập đoàn đầu tư Goldman Sachs của Mỹ là Jim O'Neill phát minh ra chữ B.R.I.C. Đó là tên tắt của bốn nước có nền kinh tế đang lên của thế giới, là Brazil, Liên bang Nga, Ấn Độ và Trung Quốc.

- Có thể là vì tiện dụng khi ông O'Neill chọn tên tắt cho dễ đọc như thói quen đã thấy của ông ta. Riêng tôi còn ngờ là ông ta cần chiêu dụ thân chủ quốc tế cho tập đoàn Goldman Sachs nên cho họ uống nước đường khi đề cao ưu điểm hoặc triển vọng của bốn nước đó. Nhưng thực tế thì chỉ là dán nhãn hiệu đẹp lên cái chai rỗng, sau đó mới tìm cách đổ vào trong một nội dung thống nhất, hoặc một dung dịch có thể hoà tan mà khôngthành nhũ tương hay chất nổ.

- Xin cho tôi nói đùa một câu: vì là dân Mỹ dùng tiếng Anh, có khi ông ta không biết một từ kép của Pháp là "bric à brac", một chữ sau này cũng đã thông dụng trong thế giới Anh ngữ. Ban đầu vào thế kỷ 19 thì từ "bric à brac" nghĩa là một tập hợp những vật kỳ lạ đáng sưu tầm, nhưng sau này có nghĩa là "đồ tầm tầm" thấy bán ngoài chợ trời! Nôm na thì đây là một sự «tào lao» trong nhiều sự tào lao mà cứ được lưu truyền vì dụng ý của các nước này!

- Từ nguyên thủy, xin hãy nhớ ba chuyện. Thứ nhất là sau Thế chiến II, khối công nghiệp hoá đã phát triển mạnh và viện trợ các nền kinh tế khác để ra khỏi tình trạng nghèo đói qua các giá trị phổ cập là kinh tế tự do và dân chủ chính trị. Họ còn xây dựng nhiều định chế quốc tế để cùng tham gia phát triển kinh tế toàn cầu và bên trong họ kiện toàn các cơ chế hợp tác có thực quyền, cụ thể như việc thống nhất kinh tế rồi chính trị Âu Châu hay Tổ chức Thương mại Thế giới. Các nước tư bản đó đã lập ra khối G-7 và thường xuyên họp hành hàng năm kể từ năm 1975.

- Chuyện thứ hai là Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991 với sự xuất hiện của Liên bang Nga khi ấy chỉ còn là một vang bóng của siêu cường đã tiêu vong là Liên bang Xô viết, trong khi Hoa Kỳ chiếm vị trí siêu cường độc bá. Về sau, khối G-7 mới mời Nga tham dự không vì sức nặng kinh tế của xứ này mà vì trọng lượng về an ninh, và khối G-8 bắt đầu ra đời từ năm 1997 để cùng nhau giải quyết thiên hạ sự. Song song, các nước đang phát triển đã vươn lên và trở thành một nhóm quốc gia được gọi là "tân hưng", trong đó, Trung Quốc rồi Ấn Độ và Brazil tại Nam Mỹ chỉ là mấy nước đến sau và có trọng lượng là nhờ dân số cao, tổng cộng là gần ba tỷ dân.

- Thứ ba, biến cố then chốt là vụ khủng bố 9-11 năm 2001 tại Mỹ khiến Hoa Kỳ cùng đồng minh - hầu hết là các nước dân chủ kỹ nghệ - đều mắc bận với cuộc chiến họ gọi là chống khủng bố Hồi giáo toàn cầu. Đấy là lúc mà các nước kia mới thấy là phải nhân cơ hội mà đòi hỏi có trọng lực nặng hơn thay vì cứ để khối công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật chi phối mãi.

BRICS lợi dụng thời cơ để mở rộng tầm ảnh hưởng


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trung Quốc và Nga đã nghĩ đến việc tăng cường hợp tác để làm lực đối trọng với sức mạnh độc bá của Mỹ hầu có thể tiến tới một thế giới gọi là đa cực.

- Năm 1996, Bắc Kinh lập cơ chế hợp tác gọi là Tổ chức Thượng Hải, ban đầu với Liên bang Nga và ba nước Cộng hoà Hồi giáo Trung Á thuộc Liên bang Xô viết cũ. Năm 2008, do sáng kiến của Nga, ba Ngoại trưởng Nga, Tầu và Ấn lần đầu tiên tiếp xúc để nói chuyện hợp tác tay ba. Qua năm 2009, Trung Quốc và Nga mới nhân thượng đỉnh của Tổ chức Thượng Hải tại thành phố Yekaterinburg của Nga mà mời Brésil tham dự để tạo thêm vây cánh. Đó là Thượng đỉnh đầu tiên của nhóm BRIC, gồm có Nga, Tầu, Ấn và Brésil.

- Qua năm 2010, Trung Quốc mới mời thêm Cộng hoà Nam Phi với chủ đích lấy lòng các nước Châu Phi da đen, rồi nhóm BRICS này thành hình từ đầu năm 2011. Tôi gọi là "nhóm" BRICS chứ không là "khối" vì họ chỉ là một câu lạc bộ gặp nhau để nói chứ không làm, mà cũng chẳng có nổi một cơ chế cưỡng hành. Họ đang đi tìm nội dung cho cái chai rỗng mà một người Mỹ đã đặt tên! Năm nay là lần đầu mà họ có vẻ nói đến chuyện trọng đại qua một thông cáo chung gồm 50 điểm rất huê dạng hoành tráng!

Dự án Ngân hàng BRICS để bớt lệ thuộc vào đô la

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ngay từ đầu, vào năm 2009, nhóm quốc gia ồn ào này kêu gọi một điều có vẻ hợp tình mà thật ra chẳng hợp lý. Đó là thành lập một loại ngoại tệ dự trữ toàn cầu và mặc nhiên chấm dứt vị trí thống trị của đồng Mỹ kim.

- Chuyện ấy có vẻ hợp tình và ăn khách nên Liên bang Nga mới nêu ra, vì chẳng lẽ các nước đang lên và nay buôn bán với nhau ngày một nhiều hơn lại cứ phải xài tiền của các nước tư bản đang mắc nợ như Mỹ, như Âu Châu hay Nhật Bản? Điều không hợp lý là chẳng ai có thể phán bảo là từ nay toàn cầu sẽ xài một loại tiền tệ nào đó từ trên trời rơi xuống.

- Ngoại tệ dự trữ phải là phương tiện hữu dụng – là dùng được để thanh toán giao dịch – và phải phản ảnh quy luật cung cầu, tức là được quyền trao đổi tự do, là chuyện chưa hề có với đồng Nguyên của Trung Quốc. Và nếu đồng Rúp Nga được tự do giao dịch thì có ngay nạn tẩu tán tài sản như người ta đã thấy từ năm ngoái vì những biến động chính trị ở bên trong.

Tính khả thi của dự án?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ngân hàng Thế giới đã thành một bộ máy thư lại quốc tế với quá nhiều nhược điểm tích lũy và quả là cần cải cách. Nhưng đến nay, đa số phần vốn - và từ đó là tiếng nói - thì vẫn nằm trong tay các nước đã phát triển. Ngoài ra, thế giới cũng có nửa tá ngân hàng phát triển địa phương để tài trợ các nước nghèo thiếu tín dụng ưu đãi và cần tư vấn kỹ thuật khách quan khi thực hiện các dự án phát triển của họ.

- Tại sao không chung tiền gom sức củng cố các cơ chế này? Trong khi ấy, điều mỉa mai là trong nhóm BRICS có Trung Quốc vẫn còn vay tiền loại ưu đãi của Ngân hàng Thế giới dù đã có điều kiện huy động vốn trên thị trường tài chính tự do. Vì sao họ không nhường phương tiện cho các nước nghèo?

- Ngẫm cho kỹ thì chuyện họ nói nhắm vào mục tiêu chính trị chứ không để giúp các xứ nghèo, hoặc để chung sức giải quyết nhiều vấn đề của thế giới. Vì vậy, nhóm BRICS này là một tập hợp của nhiều mâu thuẫn mà lớn nhất là những tính toán đối chọi giữa từng nước với nhau. Vì vậy tôi mới nói là chuyện chính trị tào lao!

Mâu thuẫn giữa các thành viên BRICS

- Ngoài lý do địa dư là sự tiếp cận giữa các thành viên của một nhóm, ta có thể nghĩ đến triết lý kinh tế chính trị tương đối thống nhất của cả nhóm, là điều không hề có.

- Như năm 2010, ba xứ dân chủ là Ấn Độ, Brésil và Nam Phi đòi lập ra một nhóm lấy tên tắt là I.B.S.A. Trung Quốc bèn phá vỡ thế liên kết khi đặt điều kiện cho Nam Phi tham dự nhóm BRICS. Đó là một thí dụ đầu tiên cho thấy khác biệt giữa ba nước dân chủ với một xứ độc tài là Liên bang Nga và một xứ toàn trị chưa chấp nhận kinh tế tự do là Trung Quốc.

- Sau khi đưa quân tấn công Gruzia vào Tháng Tám năm 2008, đầu năm 2009, Nga khống chế nguồn khí đốt bán cho xứ Ukraine để bắt bí Âu Châu vì họ mua khí đốt của Nga dẫn qua lãnh thổ Ukraine. Cũng vậy, cuối năm 2010, Trung Quốc đơn phương quyết định ngưng bán quý kim của công nghiệp cao cấp gọi là "đất hiếm". Hai xứ này có thể đơn phương dùng tài nguyên làm võ khí và không tôn trọng quy luật giao dịch tự do mà ba nước kia vẫn muốn đề cao.

- Chuyện thứ ba, nhóm BRICS nói đến phát huy "kinh tế xanh" theo tôn chỉ phát triển bền vững của Hội nghị RIO+20 năm nay của Liên hiệp quốc. Trong thực tế, Trung Quốc lạm thác cây rừng và khống chế nguồn nước từ đỉnh tuyết Hy Mã Lạp Sơn và các dòng sông trên Cao Nguyên Tây Tạng nên sẽ gây tai họa môi sinh kinh khủng cho Ấn Độ và mọi lân bang ở Châu Á trong thế kỷ 21 này. Nếu kể thêm sự ngang ngược của Bắc Kinh ngoài Đông Hải thì ta thấy ra trò bi hài.

- Chuyện thứ tư, nếu cần cải tổ các định chế quốc tế như Liên hiệp quốc hay Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI thì tại sao Nga và Tầu không đồng ý cho Ấn Độ vào làm Hội viên Thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc? Ngay trong Hội đồng Bảo an này, hai nước Nga và Trung Quốc còn phủ quyết việc trừng phạt xứ Syria độc tài đang tàn sát người dân vô tội. Làm sao có thể để các quốc gia vô đạo như vậy có thế lực chi phối thiên hạ sự của thế giới?

- Chuyện thứ năm, người lý tưởng ưa nói đến việc các nước nghèo phải liên đới tương trợ nhau qua quan hệ gọi là "Nam-Nam", tức là so với Bắc bán cầu là nơi tập trung các xứ giàu. Thực tế thì hãy xem mâu thuẫn mậu dịch rất nặng trong Thị trường Mercosur giữa các nước Nam Mỹ với nhau, trong đó có xứ Brézil. Hội nhập kinh tế giữa các nước tiếp cận mà không xong thì làm sao thống nhất hành động với các xứ ở xa, vốn đã có đầy mâu thuẫn trong lịch sử, như Nga, Tầu và Ấn? Vả lại, nếu thả ra thì xứ nào cũng đòi bảo hộ mậu dịch khiến các nước nghèo đều bị thiệt, đấy là sở trường của Trung Quốc và cả Ấn Độ.

- Sau cùng, trong mấy năm suy trầm vừa qua, ưu điểm biểu kiến, bề ngoài, của nhóm BRICS chẳng có gì là ưu việt vì sau khi tăng trưởng 7,5% vào năm 2010, xứ Brésil cũng bị suy trầm vì đạt tốc độ có 2,5% mà thôi và kinh tế Ấn Độ thì vẫn chưa ra khỏi nhiều sai lầm lưu cữu từ ba năm nay. Trong khi ấy, những xứ khác như Indonésie, Mexico hay Argentine cũng có lý do chính đáng tham gia vào nhóm này, nếu kể về dân số hay sức mạnh kinh tế của họ. Nếu gom ngần ấy nước lại, có khi ta sẽ có nhóm ABRACADABRA, là một câu thần chú của cổ tích!

- Kết luận thì nhóm BRICS đã nhân sáng kiến của một anh Mỹ đa sự mà kiễng chân cao quá tầm. Và nếu có thực tâm thì việc mời Trung Quốc tham dự vẫn khiến họ thất bại vì Bắc Kinh cứ đòi ngồi trên đôi vai của họ để uy hiếp thế giới và trục lợi riêng. Thật ra, cái câu lạc bộ này chỉ ồn ào khi hùa nhau đả kích Mỹ dù từng nước một lại muốn có quan hệ kinh tế đặc biệt với Hoa Kỳ. Đấy là một trò vui, nhưng không bền.

Nguyễn Xuân Nghĩa & Thanh Hà RFI

Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.