Hôm nay,  

Tiếng Mỹ Ba Rọi

19/12/201200:00:00(Xem: 13377)
Trước năm 1954 khi tôi còn bé, sống ở Hải Phòng, thỉnh thoảng tôi nghe người lớn nói: “Cái ông đó - hoặc thằng cha đó nói tiếng Tây ba rọi” có nghĩa là cái ông/bà nào đó khi nói chuyện bằng tiếng Việt, cứ chen vào vài câu tiếng Tây… cho nó oai hoặc “dốt” tiếng Việt cho nên phải dùng tiếng Tây thay thế… làm người nghe khó chịu. Thà nói toàn tiếng Tây đi thì không sao. Nói chen tiếng Tây vào khiến bà con Miền Bắc gọi đó là nói “tiếng Tây ba rọi” với ý mỉa mai, khinh thị.

Khi tôi vào Nam năm 1954, Tây thua trận, từ từ rút hết, vả lại báo chí cũng không ưa kiếu ăn nói như thế và thường thường mỉa mai cho nên nạn nói “tiếng Tây ba rọi”cũng theo đó mà mai một. Rồi khi 500,000 lính Mỹ đổ vào Miền Nam, người ta đua nhau học tiếng Mỹ để vừa giao dịch, đi làm sở Mỹ hoặc du học v.v.. Tạp chí Mỹ, báo Mỹ, đồ/hàng Mỹ, lính Mỹ tràn ngập đường phố nhưng không bao giờ tôi nghe trên đài phát thanh hoặc đọc trên báo xuất hiện loại “tiếng Mỹ ba rọi”. Bản thân tôi từ Lớp 10 đã lấy Anh Văn là sinh ngữ chính và sáu năm đại học - đọc sách Mỹ dù không nhiều - nhưng không bao giờ mở miệng nói chen tiếng Mỹ vào câu chuyện. Thậm chí một số bạn bè sau này, du học Mỹ trở về, họ cũng không bao giờ làm thế. Xin thưa, nếu tôi nói chuyện kiểu “tiếng Mỹ ba rọi” có lẽ phải “độn thổ” với bạn bè. Quý vị nào không tin, cứ thử vào thư viện quốc gia cũ của Miền Nam xem lại sách vở, báo chí, văn chương cũ xem có loại “tiếng Mỹ ba rọi” hay không?

Thế nhưng phải công nhận rằng sự hiện diện của 500,000 lính Mỹ ở Việt Nam, cũng giống như Utapao của Thái Lan, Subic Bay của Phi Luật Tân đã bùng phát cái mà thế giới gọi là “kỹ nghệ gái điếm khổng lồ“. Những vùng Mỹ đóng quân như Pleiku, An Khê, Đà Nẵng v.v... trên là trời, dưới là quán Bar. Những cô gái bán Bar- thực chất là gái điếm trá hình, là gái quê mùa, thất học làm sao đủ Anh Văn để nói chuyện với lính Mỹ - mà người Mỹ gọi đùa là GIs - cho nên đã xuất hiện một thứ tiếng Mỹ của gái bán Bar như:

- Mama son= má/mẹ (mother)

- OK Salem= để xin thuốc lá Salem

- No Star Where = Không sao đâu (No problen! hoặc Dont worry!)

- Long time no see= Lâu quá không gặp (I havent seen you for a long time) (*)

Thế rồi sau năm 1975 dĩ nhiên đâu còn Mỹ nữa thì làm sao Mỹ có thể ảnh hưởng tới văn hóa Việt Nam? Tôi định cư vào Hoa Kỳ năm 1985. Lúc này chưa có Internet cho nên không nghe được đài phát thanh, đọc báo trong nước, vả lại tôi chưa từng về Việt Nam lần nào, cho nên hoàn toàn không biết ngôn ngữ Việt, tiếng Việt của Việt Nam bây giờ ra sao. Thế nhưng cách đây khoảng 5 năm và cho tới bây giờ, khi vào Internet đọc các trang điện tử, tôi thật “kinh hoàng” khi thấy tiếng Việt bị pha trộn với tiếng Mỹ một cách khủng khiếp, phá hoại tiếng Việt khiến tiếng Việt chẳng còn ra thể thống gì nữa. Nó giống như mình đang nhai gạo tám thơm lại cắn phải hạt sạn, đành phải nhổ miếng cơm ấy ra! Cách đây vài năm, các nhà văn hóa Pháp cũng đã lên tiếng báo động về hiện tượng “tiếng Mỹ ba rọi” có nguy cơ phá nát nét đẹp truyền thống của văn hóa và ngôn ngữ Pháp.

Tiếng Việt của chúng ta vô cùng phong phú có thể chuyển sang Việt ngữ tất cả những danh từ có nguồn gốc Pháp-Mỹ v.v… của mọi bộ môn như: khoa học, triết học, luật học, kinh tế học, xã hội học, chính trị, thương mại, ngoại giao, quân sự, kể cả văn chương, giải trí v.v.. Cứ mở tự điển hoặc vào thư viện xem sẽ thấy. Một số danh từ mà ta không có như : café, beurre, boulon, ciment, đường rail v.v.. nhưng ông bà chúng ta cũng đã không dùng nguyên mà chuyển âm cho có vẻ Việt ngữ như: cà-phê, bơ, bù-loong, xi-măng, đường rầy, v.v...

Có thể do lai căng, bắt chước “theo voi ăn bã mía” hoặc “kém” tiếng Việt hoặc kiểu cọ thời trang cho nên một số rất đông đang xử dụng loại “tiếng Mỹ ba rọi” khiến tiếng Việt thành một thứ ngôn ngữ quái đản, lai căng. Sau đây là một số tiếng Mỹ đang là “Con sâu trong nồi canh tiếng Việt”!

1) Hot news: Tin hấp dẫn không chịu dùng mà lại nói “tin đó hot lắm!”

2) Hot girls : Những cô gái ăn mặc hở hang, ăn mặc khiêu dâm

3) Ăn mặc hot: Ăn mặc hở hang, khiêu dâm

4) Hot seat: Không phải là “ghế nóng” mà là đang ở vào tình thế gian nan, vô cùng bất lợi. Ví dụ: He is in hot seat có nghĩa là: Ông ta ở vào tình thế vô cùng nan giải. Hot seat tiếng lóng còn có nghĩa là “ghế điện” dành cho tử tội.

5) Hot topic/ Hot issue: Không phải là “đề tài nóng” mà là những vấn đề đang được bàn cãi sôi nổi thường xuất hiện trong các cuộc bầu cử ở Mỹ.

6) Bản nhạc ấy hot lắm: Bản nhạc vừa xuất hiện và được ưa chuộng, bán chạy, được hát nhiều.

7) Hot line: Không phải là đường giây nóng hay lạnh mà là “đường giây thông báo khẩn cấp” thường giữa vị nguyên thủ các quốc gia có vũ khí nguyên tử như Nga-Mỹ để tránh rủi ro.

8) Thị trường đang hot: Thị trường bán rất chạy (trái với ế ẩm)

9) Tour du lịch: Chuyến du lịch, các chuyến du lịch.

10) Tôi vừa đi tour: Tôi vừa đi du lịch. Tôi vừa làm một chuyến du lịch.

11) Cho tôi một vé đi tour Hạ Long: Cho tôi một vé du lịch Hạ Long.

12) Khu resort: Khu nghỉ mát, khu nghỉ dưỡng

13) Sexy: Hấp dẫn, hở hang, gợi dục. Do đó “Một cô gái có thân hình sexy” là cô gái có thân hình hấp dẫn (gợi dục, gợi sự ham muốn). Một cô gái ăn mặc sexy là cô gái ăn mặc hở hang, không đứng đắn…chẳng hạn như váy ngắn quá, áo hở ngực lồ lộ, hoặc váy mỏng/ quần mỏng lộ cả quân lót bên trong. Cô ấy có khuôn mặt sexy tức cô ấy có khuôn mặt lẳng lơ, đa tình.


14) Top: Đứng đầu, hàng đầu

15) Top Ten: Mười người/quốc gia/hãng…đứng đầu, v.v...

16) Tuổi Teen, các Teen: Chúng ta hãy xem người Mỹ đếm số từ 13 tới 19: Thirteen, fourteen, fifteen, sixteen, seventeen, eighteen và nineteen. Tất cả đều kết thúc bằng chữ teen. Như vậy “tuổi teen” là tuổi vị thành niên, dưới 20 tuổi. Và “các teen” là các trẻ vị thành niên. Do đó “teen pregnant” có nghĩa là vị thành niên mang bầu/có thai - một tệ nạn của xã hội Mỹ bây giờ cho nên phải phát bao cao su sinh lý cho học sinh là như thế đó.

17) Các show: Các buổi trình diễn văn nghệ.

18) Showbiz: Những buổi trình diễn/ giới thiệu thương mại.

19) Live music: Nhạc sống (do ban nhạc trình diễn chứ không phải nghe qua máy)

20) Live show: Chương trình trực tiếp (không phải thu hình xong rồi phát lại).

21) TV: Truyền hình, đài truyền hình,

22) Clip: Đoạn băng ngắn, đoạn video ngắn.

23) Các fan: Những người hâm mộ, kẻ hâm mộ. Nếu hâm mộ một cách điên cuồng có thể gọi là “tín đồ” như trong lãnh vực âm nhạc chẳng hạn.

24) Meeting: Cuộc biểu tình, buổi gặp gỡ, họp mặt

25) Cup: Giải. Do đó người đoạt cúp là người đoạt giải.

26) World Cup : Giải túc cầu/bóng đá thế giới

27) Tiệm Nails : Tiệm sơn móng tay, móng chân.

28) Nghề Nails : Nghề sơn móng tay, móng chân.

29) Máy ATM : Máy chuyển tiền tự động.

30) GDP: Tổng Sản Lượng Quốc Gia (Gross Domestic Product).

31) Hand made: Hàng làm bằng tay, thêu tay (không phải bằng máy).

32) Visa/Passport: Xin visa tức là xin nhập cảnh. Xin passport là xin xuất cảnh.

33) Stress: Căng thẳng thần kinh. Mới đây trên Tuổi Trẻ Online có hai tiêu đề rất “ba rọi” như sau: “Facebook có làm bạn stress?” Trời đất quỷ thần ơi! Ông nào viết bản tin này chắc là một ông Mỹ lai không biết chữ “căng thẳng thần kinh” bèn phang vào đó chữ stress cho xong ! Rồi lại một câu nữa thật kinh hồn: “Anonymous tấn công website Bộ trưởng CNTT-TT Ấn Độ” Xin thưa: anonymous là kẻ ẩn danh, dấu tên. Còn các chữ viết tắt “Bộ trưởng CNTT-TT Ấn Độ” quá bí hiểm, chỉ có mình ông ta hiểu chứ ngay trưởng ban biên tập nếu coi lại kỹ cũng chẳng hiểu ông ta viết gì!

34) Email: Điện thư.

35) Bikini: Áo tắm hai mảnh

36) Sốc (Shock): Sửng sốt, choáng váng (vì quá bất ngờ). Chữ shock đang được dùng tràn lan trong nước dùng như một thứ kiểu cọ, thời trang, làm dáng.

37) Games: Các trò chơi trên máy điện tử.

38) Ebook: Sách điện tử

39) Laptop: Máy điện tử cầm tay. Thực ra là để trên lòng (lap) khi đem ra phi trường, hoặc đi xa…không có bàn ghế.

40) Desktop: Máy điện tử để bàn.

41) Hacker: Kẻ ăn cắp hoặc phá hoại các dữ kiện của người khác qua máy điện tử, có thể tạm dịch là “tin tặc”.

42) Style: Kiểu, kiểu cọ, lối. Trên trang tin điện tử giaoduc.net.vn có một đề mục cũng rất “ba rọi” như sau: “Style “ngủ gật” của mỹ nhân trên sàn Catwalk”. Tôi không hiểu tại sao ông này không viết, “Kiểu ngủ gật của mỹ nhân trên sàn Catwalk”.

43) Cholesterol: Độc tố trong máu (gây bệnh tim)

44) Virus: Vi khuẩn, vi trùng, siêu vi trùng.

45) Mr. & Mrs. : Điều lạ lùng là trong nước bây giờ thích dùng các chữ Mr., Mrs., và Miss thay vì Ông, Bà, Cô v.v.. Trên trang điện tử Petrotimes.vn nơi phần liên lạc ghi: Mrs. Vân Anh : điện thoại… & Mrs. Đào Hương: điện thoai… trong khi đây là trang báo dành cho người Việt chứ không phải người Mỹ. Thật tôi không hiểu tại sao lại như vậy. Và còn biết bao nhiêu loại “tiếng Mỹ ba rọi “ nữa mà tôi không thể kể ra hết.

Nói về sự trân quý tiếng Việt nguyên thủy, đẹp, trong sáng, không lai căng của người Việt hải ngoại tôi xin kể cho quý vị một câu chuyện. Vì tôi là một nhà văn cho nên nhận được khá nhiều sách biếu tặng qua lại. Trước khi hưu trí vào năm 2007, tôi phục vụ cho Học Khu Oak Grove (San Jose) và tôi có đem biếu một cuốn truyện viết về trẻ thơ do một nhà văn nữ ở San Jose tặng. Người nhận sách là một cô giáo dạy thêm lớp Việt Ngữ cho học sinh Việt Nam hầu như quên hết hoặc không biết tiếng Việt. Khoảng tuần lễ sau tôi hỏi cô giáo:

- Em thấy cuốn sách thế nào?

Cô giáo trẻ trả lời ngay:

- Em vứt nó đi rồi.

- Ủa, tại sao vậy em?

Cô giáo trang nghiêm nói:

- Đây là lớp Việt Ngữ. Em dạy tụi trẻ tiếng Việt mà truyện của cô ấy viết toàn tiếng Mỹ lai căng như Mom (mẹ) Daddy (bố) thì em vứt đi chứ giữ làm gì? Tụi nhỏ cần học các chữ Bố, Mẹ chứ tụi nó đâu cần học các chữ Mom, Daddy nữa!

Nghe cô giáo trả lời thế trong lòng tuy xấu hổ vì mình đã không đọc kỹ cuốn sách trước, nhưng tôi thầm phục và cảm ơn cô giáo đã biết thế nào là dạy Việt Ngữ cho các em học sinh.

Tiếng nói và chữ viết là gia tài văn hóa của một quốc gia do bao thế hệ cha ông sáng tạo, vun sới, gọt tỉa, chọn lựa, gìn giữ. Rồi nó lại được phong phú hóa bởi thi ca và tiểu thuyết, âm nhạc, kịch nghệ. Nhu cầu hội nhập đã khiến tiếng Anh tràn vàoViệt Nam như một đợt sóng thần không sao ngăn nổi. Nhưng nếu nghĩ đến tương lai của dân tộc thì nó cần phải được các học giả, các nhà văn hóa, nhà giáo dục, các nhà văn, nhà báo có kiến thức về ngoại ngữ chuyển ngay nó sang tiếng Việt một cách chính xác và đứng đắn để công chúng xử dụng và không để loại “tiếng Mỹ ba rọi” phá nát tiếng Việt yêu quý ngàn đời của chúng ta.

Đào Văn Bình
(California 17/12/2012)

(*) Các GIs trở về từ Viêt Nam gặp nhau nói tràn lan câu “Long time no see” khiến một thời gian sau trở nên phổ thông và đã được Đại Học Harvard công nhận là ngôn ngữ chính/chuẩn mực của Hoa Kỳ.

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.